|
|
Phiếm Luận...
CHỮ HỌC
Tư Cà Tửng
“Thưa ông nội con đi học.”
Từ đầu niên học đến nay, sáng nào thằng
nhỏ cháu nội út của tôi cũng thỏ thẻ nói mấy lời thân thương đó trước khi
rời nhà. Năm nay nó đi đến trường
lớp để học thật sự. Năm ngoái, nó đi
“vườn trẻ,” chơi nhiều hơn học, cốt để làm quen với các trẻ khác cùng lứa
tuổi.
Hai tiếng “đi học” của đứa cháu nội khiến Tư tui nhớ lại bài “Đi Học Để Làm Gì?” trong
sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư hơn 55 năm trước: “Bác hỏi tôi
đi học để làm gì, tôi xin nói bác nghe. Tôi đi học để biết đọc, biết viết,
biết làm toán... để sau này để trở thành người hữu ích cho nhơn quần xã hội...” Vậy rõ ràng đi học có hai mục đích, cho
mình và cho xã hội. Học để biết đọc,
biết viết, biết làm toán... là học để kiếm cơm, tìm job. Nhưng học không cốt chỉ cho mình mà còn
cho người khác, cho xã hội. Không có
mục đích thứ hai thì “học” chỉ là phương tiện giá áo túi cơm.
Lớp trẻ cỡ cháu nội/ngoại tui ở Mỹ may
mắn hơn Tư tui và những người cùng thế hệ lúc còn nhỏ ở Việt Nam. Chiến tranh, giặc giã, thiếu trường,
thiếu thầy cô, học cụ, sách vỡ... muốn học cũng không được. Sáng chiều, mấy đứa bạn cỡ 8, 9 tuổi với
Tư tui vẫn còn chạy chơi rong ngoài đồng, ngoài ruộng, câu cá, bắt cua, bắt
dế... chưa biết sách vở là gì. Đứa nào may mắn đi học thì cũng thích đi
theo mấy đứa bạn khác học... trường bụi, sướng hơn!
Học là thu nhận kiến thức, sự
hiểu biết từ nhiều nguồn khác nhau. Người đi học được gọi là học trò, học
sinh, đệ tử, đồ đệ, môn sinh, môn đệ, môn đồ; ở đại học thì gọi là sinh viên cho nó oai hơn. Ở lớp nhỏ, học vỡ lòng, học trò muốn học
phải cần người dạy, thầy cô ở trường hay cha mẹ, anh chị ở nhà. Bởi vậy mà ông bà mình thường nói “không
thầy đố mày làm nên!” Có lẽ vì
hồi xưa thầy cô dạy học hết lòng, làm gương tốt nên học trò quý mến, nhớ ơn,
không giống các thầy cô xã hội chủ nghĩa bây giờ. Tuy vậy vẫn có nhiều trường hợp “học
thầy không tầy học bạn.” Học với bạn thì vui hơn, được tự do hạch hỏi
và “bắt bí,” không sợ hội chứng quyền lực của ông thầy cản trở.
Học thì cần trường ốc, trường học hay học
đường, tức phải có nơi có chốn nhứt định. Học trò đi học mà cha mẹ không biết học ở
trường nào thì đích thị trò đó học ở trường
bụi. Trường bụi là trường
di động, nay chỗ này mai chỗ khác, đâu có lùm có bụi, có bóng mát là có thể
dùng làm trường (rạp xi-nê cũng là nơi lý tưởng). Trường bụi không có thầy cô, chương trình
linh động thay đổi theo ý thích của học trò, chỉ cần hai đứa là thành
lớp. Cấp lãnh đạo đất nước ta hiện
nay là “cựu học sinh trường bụi” thời đánh Tây chống Mỹ. Hồi nhỏ, Tư tui cũng có đi học trường bụi
mấy lần. Làm học trò mà không “học”
trường bụi là điều thiếu sót lớn.
Học trò Mỹ gọi là “skip a day”.
Nhưng “skip” nhiều hơn và thường xuyên là một tai họa. Tây con gọi trường bụi là “l’école
buissionnière”. Đây là loại “trường cao đẳng,” không phải thi vào nên không
cần phải thi ra, muốn tốt nghiệp lúc nào cũng được.
Còn có một thứ trường khác gọi là trường đời.
Trường đời thì phải học cả đời, học bằng cuộc sống của mình và của
người khác. Có người nhờ học trường đời
mà sáng mắt, khôn ra, nhưng cũng có người học không vô nên chứng nào tật
nấy, ngựa quen đường cũ. Các ông
thầy dạy ở trường đời có nhiều loại.
Loại khen mình mà khen lếu láo là chủ mưu muốn ám hại mình. “Thầy cô” loại này chỉ thích cho mình
“uống nước đường” để mình chết sớm (chưa kể bị bịnh tiểu đường... kinh niên vì tật hảo ngọt!) Ông bà mình nói “kẻ
nào chê ta mà chê đúng là thầy ta, kẻ nào khen ta mà khen xạo, khen để lấy
lòng là âm mưu ám hại ta.”
Dù vậy lắm người ở thế gian vẫn chủ trương thà chết trong... hũ nước
đường ngọt ngào hơn là chết trong hũ giấm chua “pickle.” Phải bị đời đá tung, rớt xuống nhiều lần,
rồi cố gắng vươn lên mới hiểu được thật sự giá trị, tài năng của mình.
Con người là kẻ học nghề
Mà thầy là nỗi ê chề đớn đau
Không ai tự biết mình đâu
Nếu chưa từng trải đớn đau
nhiều bề.
Học trò muốn hiểu rõ một vấn đề gì thì
lúc học phải hỏi, học hỏi, học vấn.
Học mà không hỏi, giống như tắm không có xà bông, nghĩa là không
sạch, không thông, chưa suốt. Học
trò có quyền hỏi thì mới dám hỏi.
Học trò thông minh thường thắc mắc, hay hỏi này hỏi nọ. Các thầy cô
dạy học theo lối nghiệp dư, hành nghề tay trái, chữ nghĩa không bao nhiêu,
rất sợ học trò hỏi, nên phải làm ra vẻ ta đây nghiêm trang để học trò sợ mà
tin phục, không dám hỏi. Thầy nói là
phải đúng, “nhất tự vi sư, bán tự vi sư.” Bởi đó, muốn dạy một thì phải biết mười để
lỡ gặp thứ học trò “học một biết mười”
thì thầy cô không “xì nẹt” bất tử.
Học muốn có kết quả thì phải tập, học
tập, tức phải làm, làm thử. Sách đại học của Nho giáo ghi
rõ: học nhi thời tập chi. Học trò đi học, phải làm bài tập cho
quen, cho nhớ để lúc thi biết cách mà làm.
Học thì phải hành, học hành, tức thực hành những điều được truyền dạy,
lớn lên phải hành động, phải sống thực.
Nhờ hành mà sự hiểu biết được phong phú, biết chỗ đúng, chỗ sai để
sửa đổi. Bất cứ nghề nghiệp nào, học
mà không tập, không hành thì không thể nào khá được, tay nghề luôn luôn lệt
bệt kém thua người khác. Muốn biết nghề, rành việc thì phải chịu khó học
nghề, học việc; phải hành, phải làm và làm được những điều đã học hay dạy
người khác. Walk the talk!
Người học nhiều quá, có nhiều bằng cấp,
thấy mình nhất thiên hạ, không ai bằng mình (về bằng cấp!), tự cho mình
thẩm quyền xác định đúng sai về một lãnh vực hiểu biết nào đó, tức độc
quyền tư tưởng gọi là học phiệt. Cái này là hậu quả của cách học gạo mà ra, cắm đầu cắm cổ mà học, chỉ
biết có sách vở và... mình, không biết thế giới xung quanh ra sao. Truyện
kiếm hiệp Tàu gọi hiện tượng này là “tẩu hỏa
nhập ma,” trước sau gì cũng thân bại danh liệt.
Không học
trực tiếp (có thầy cô, có trường lớp) mà học gián tiếp bằng quan sát, mắt thấy tai
nghe gọi là học lóm/học lõm. Học mót
là học của người khác nhưng không có hệ thống gì cả nên bị “tam sao thất bổn.” Người tự học là học không có thầy, không đến trường
lớp, nhưng dùng kiến thức sẵn có của mình để trao dồi đọc sách, nghiên
cứu. Sự hiểu biết của nhiều danh
nhân trên thế giới thường do việc tự
học mà ra. Người có kiến thức uyên
bác gọi là học giả, nhưng học giả không hẳn là người có
bằng cấp cao. Học phiệt thường lớn
lối chê bai người tự học là học lóm, lọc lõm, học mót, không bằng mình là
thứ học...
thiệt.
Có một loại học không nên học, nhưng có
nhiều người thích học, tranh nhau học và thật khó tránh ở xứ này vì ba cái
quảng cáo trời ơi đất hỡi là... học đòi,
tức đua đòi, bắt chước không phải lối, nay thời trang này, mai thời trang
khác, thấy người ta có mình cũng muốn có cho được. Có vợ, có chồng, hay con cái thích “học đòi”
thì mệt ứ hơi. Học lối này tốn nhiều tiền nhưng không có bằng cấp thiệt; có
thể mua bằng cấp giả. Người có bằng cấp giả không phải là học giả.
Cùng đi học nhưng kết quả thu hoạch có
thể khác nhau. Có người học như vẹt, thuộc lòng mà không hiểu gì cả,
người ta nói gà mình hiểu vịt, rồi cứ cù nhầy cải chầy ra cối, lằng nhằng
lỉ nhỉ không thôi. Có người thông
minh học một biết mười nhưng cũng có người “học
chọc bát cơm, học đơm bát cháo,” hay “học chẳng
hay cày chẳng thông,”
tức học mười nhưng biết chẳng được một.
Có người biếng
học nhưng được lộc trời cho, ngôn ngữ dân gian gọi là “chó táp phải ruồi,” nên “học chẳng hay, thi may thì đỗ,”
nhưng cũng có người “học tài thi phận,”
thi keo nào cũng rơi, cũng
rớt rồi sanh bịnh... chưởi đời:
Thế mới biết học tài thi phận
Miệng đàn bà con trẻ thế mà
thiêng.
Tú
Xương
Ngoài việc học
chữ nghĩa ra còn có bao nhiêu thứ khác để học trong đời như lễ nghĩa,
cách ăn ở xử thế ở đời.
Chữ nghĩa thì học lúc nào cũng được, miễn có chí và chịu khó. Tư tui
biết một cụ già người Mỹ hơn 90 tuổi vừa học xong bằng G.E.D., tức bằng tương
đương trung học cho những người lớn tuổi.
Nhưng lễ nghĩa thì phải học lúc nhỏ, càng nhỏ càng có thể
(tiếng Việt ta nói/viết theo cú pháp Mỹ!), vì đó là căn bản đạo làm người: “tiên học
lễ, hậu học văn.” Nhưng ở Việt Nam xã hội chủ nghĩa
ta bây giờ, học trò không cần học lễ, chỉ cần làm sao giải quyết “vấn đề
đầu tiên” là “học phí,” dù học
ở trường công một trăm phần trăm.
Chủ trương của nhà nước cách mạng là “tiên
học phí, hậu học văn.” Muốn học miễn phí thì chỉ còn cách học “trường
bụi;” lớn lên làm sinh viên đi học “đại học rừng rú” do cụ Lê Đức Thọ sáng
lập thời chống Tây đánh Mỹ dọc theo đường mòn mang tên Hồ Chí Minh.
Ngoài ra còn phải “học ăn, học nói, học gói, học mở,” công,
dung, ngôn, hạnh… Điều này thật quan trọng cho những phụ nữ
dự tính con đường... làm dâu một họ,
cũng như những người chọn con đường... làm dâu trăm họ.
Kiến thức loài người tích trữ từ thế hệ
này sang thế hệ khác, đời nọ đến đời kia, khắp năm châu bốn bể, mênh mông
rộng lớn hơn đại dương nên người ta thường so sánh việc học như một đại dương,
biển học, không biết đâu là bến, đâu
là bờ. Bởi đó, người Mỹ gọi việc “học xong,” lấy bằng chỉ là giai đoạn khởi đầu,
commencement, học hoài không
hết. Người Trung Hoa và người Việt Nam ta thì
gọi đó là “tốt nghiệp,” nghĩa là học
thành tài rồi! Vì vậy, nhiều người
vừa tốt nghiệp đã cảm thấy con đường học vấn đã viên mãn, công thành danh
toại, nghĩ mình là thứ “học thiệt.” Rồi “học thiệt” trở thành “học phiệt”
không mấy lúc. Học phiệt thấy mình là cái rốn vũ
trụ. Bởi đó có nhiều cuộc bút chiến
xảy ra giữa “học thiệt/học phiệt” và “học giả.”
Nói cho cùng, người muốn học phải có đầu
óc khai phóng, cởi mở, khiêm cung thì mới có cơ duyên gặp thầy giỏi. Cứ khư khư nghĩ mình đúng, coi bàn nhân
thiên hạ như học trò i-tờ thì ắt không tránh khỏi tai họa. Tai họa xảy ra là do mình gây ra, không
ai khác:
Ma đưa lối quỷ đưa đường,
Lại tìm những chốn đoạn trường
mà đi.
Nguyễn Du
Bậc thánh nhân như Khổng Tử mà cũng phải
học với người tầm thường, và chính nhờ vậy mà Khổng Tử mới trở thành thánh
nhân: Tam nhân đồng hành, nhất hữu viết sư,
tức trong ba người đi chung thế nào cũng có một người đáng làm thầy mình.
Ôi!
biển học mênh mông, sự hiểu biết của Tư tui như “ếch ngồi đáy
giếng”, nhìn sao thấy hết, viết sao cho vừa.
|