|
|
Phiếm Luận...
CHỮ Dạy
Tư Cà Tửng
Bàn về chữ HỌC mà không nói về chữ DẠY là một điều thiếu sót, thiếu
sót đến một nửa. DẠY và HỌC như hai mặt phải trái của một đồng tiền, không
thể có mặt này mà thiếu mất mặt kia.
Bởi có người muốn học nên mới có người dạy.
DẠY là truyền đạt sự hiểu biết về một
lãnh vực kiến thức nào đó như khoa học, kỹ thuật, văn chương, chữ nghĩa...
Đó là DẠY theo nghĩa chánh thức, ở trường học. Người đi học là học trò, học
sinh, đệ tử, môn sinh, môn đệ, môn đồ. Người dạy được tôn kính gọi là thầy,
cô, sư phụ; văn minh hơn một chút thì gọi là giáo sư. Từ ngày miền Nam được giải phóng, nghề
dạy học được đảng cụ Hồ “nâng niu” nên thầy cô được gọi là các “kỹ sư
tâm hồn.” Hồi thời chữ nho còn
thạnh hành, trước thế chiến thứ nhất, người dạy học còn được gọi là thầy
đồ. Cứ mỗi lần Tết đến, Tư tui
nhớ đến bài thơ “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên, một hình ảnh thật thân thương,
quen thuộc thời đã qua:
Mỗi năm hoa đào nở,
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê
viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng
bay...
Hồi mấy năm đầu mới ở Mỹ,
thỉnh thoảng có vài người Mỹ thắc mắc hỏi Tư tui: “Nước Việt Nam của anh
nhỏ nhưng sao có nhiều trường đại học?” Tui còn đang ngơ ngáo chưa kịp trả
lời thì người hỏi dường như đoán hiểu ý nên nói tiếp: “Sao Việt Nam có nhiều ‘giáo sư,’
nhiều ‘tiến sĩ’ quá vậy?” À thì ra vậy... Số là trong ngôn
ngữ ta, thầy cô dạy học từ lớp 6 đến lớp 12 cấp trung học cũng như cấp cao đẳng,
đại học đều được gọi chung là “giáo sư,” cá mè một lứa. Khi dịch sang tiếng Anh Mỹ, chữ
“professor” chỉ dùng ở cấp đại học mà thôi, những người có bằng tiến
sĩ/Ph.D. Bởi đó mà có “sự cố” hiểu
lầm, do việc không thông hiểu văn hóa của nhau. Người Pháp cũng dùng chữ “professeur” để
chỉ những người dạy đại học hoặc tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm (École Normale
Supérieure) dạy trung học.
Nghe nói bây giờ ở Việt
Nam xã hội chủ nghĩa người có bằng cấp tiến sĩ, phó tiến sĩ, thạc sĩ nhiều
như cào cào châu chấu nhờ các trường “học đại” hàm thụ trên
internet, chưa kể bằng giả, bằng mua, bằng mướn, bằng mượn, bằng chuyên tu,
tại chức… nên nhân dân ta mới có câu “dốt chuyên tu, ngu tại chức”...
Theo truyền thống văn hóa
Á-đông, người làm thầy có địa vị thật quan trọng đối với học trò. Nho giáo đặt địa vị ông thầy trên cả người
cha ruột thịt: quân, sư, phụ, tức vua, thầy, cha,
theo thứ bậc quan trong đó. Có lẽ vì
thời xưa, người làm thầy phải dạy một học trò liên tiếp nhiều năm, một mình
bao hết một cấp học, không những chữ nghĩa thánh hiền mà cả phép ăn ở, xử
thế ở đời sao cho xứng đáng là người tốt của xã hội. Tương lai, sự nghiệp, con đường làm quan
của học trò ngày xưa gần như hoàn toàn thùy thuộc nơi thầy dạy. Nhiều ông thầy đã đỗ đạt, làm quan; sau
một thời gian chán cảnh đời danh lợi, bon chen nên lui về làm nghề dạy
học: tiến vi quan, đạt vi sư. Thời xưa, học trò đi học “không có
quyền” có ý kiến ngược lại với thánh hiền, với thầy dạy. Đối với học trò “cửa Khổng sân Trình”
thì “Tử viết” (thầy Không Tử, thầy Mạnh Tử... nói) là phải đúng, chỉ được khen mà không được phép chê, trừ phi muốn suốt
đời thi hỏng như Cao Bá Quát hay Trần Tế Xương. Ngày nay, vẫn có nhiều bậc làm thầy còn
muốn bảo tồn truyền thống văn hóa đó, không ưa vặn hỏi lôi thôi, cứ theo
lời dạy mà thi hành.
Sách Quốc Văn Giáo Khoa
Thư có kể chuyện một ông quan to nước Pháp tên là Carnot. Một hôm có việc đi ngang qua làng cũ, nhớ
lại thầy mình lúc nhỏ, ông ghé vào trường thăm. Thấy thầy nay đã già, đầu tóc bạc phơ,
ông xúc động chạy đến ôm thầy nói: “Con là Carnot đây, thầy còn nhớ con
không?” Rồi ông quay về phía các học
trò nhỏ mà nói: “Ta được nên danh phận như ngày nay là nhờ công ơn thầy dạy
dỗ. Các con nên nhớ nghe lời thầy để
sau này trở nên người hữu ích cho xã hội.”
Đúng là “không thầy đố mày làm nên!”
Không hẳn cứ dạy chữ mới
làm thầy, làm cô. Ở đời còn bao
nhiêu điều hay lẽ thiệt cần nên biết, cần nên học. Ai dạy mình một điều tốt, điều lành cũng đều
đáng là thầy, cô mình cả. Bởi thế mà
người ta mới nói “nhất tự vi sư, bán tự vi sư.” Ngày xưa, nghề dạy được xã hội trọng vọng
nên có nhiều người theo đuổi và người dạy học cũng phải có “ơn gọi” (vocation) làm thầy, làm cô. Ngày nay, ít người muốn theo đuổi nghề
dạy. Có người còn cho đó là “nghề
bán cháo phổi,” vì nghề dạy phải nói suốt ngày, khô cả cổ (nếu thầy cô
còn lương tâm nghề nghiệp) nên trước sau gì cũng “dưỡng hưu sớm” ở nhà thương
lao Hồng Bàng ở Chợ Lớn. Một phần cũng do thầy cô chỉ thích “talk the talk”
mà không chịu “walk the talk.” Sau
tháng tư đổi đời 1975, nhiều thầy cô trở thành “mất dạy.” Từ “mất dạy” này không có nghĩa xấu để
chỉ người không có tư cách đúng đắn, mà chỉ có nghĩa... thật đẹp là thầy cô
nay nhờ ơn giải phóng mà “mất nghề dạy,” thất nghiệp và làm “nghề
phe phẩy” ở chợ trời, chờ tìm ra đường dây... vượt biên cứu nước như
cậu ba Nguyễn Tất Thành ngày xưa ở bến cảng Nhà Rồng.
Nghề dạy học thật sự rất
khó, không yêu nghề, không yêu người, yêu trẻ thì khó mà làm được. Muốn dạy thì phải dỗ, dạy dỗ,
tức dùng lời lẽ dịu dàng, ngon ngọt, ân cần để tạo điều kiện thuận lợi cho
người học muốn học. Dạy học kỵ nhất
là mắng chưởi học trò là “đồ ngu.”
Vì ngu nên mới cam chịu làm học trò, nên mới cần học. Ngày nào hết ngu thì ngày đó có thể làm
thầy cô dạy lại người khác. Nói cho cùng, học trò… ngu thường là lỗi do
thầy cô không biết dạy, không biết cách khích lệ, thúc đẩy học trò học. Dạy
một lần chưa có kết quả tốt thì dạy hai lần, ba lần... Kiên nhẫn sẽ thành
công. Cũng có thể thầy cô không khôn
gì hơn học trò, bị “hỏi bí” nên xì nẹt bất tử rồi la càng, chưởi
bậy! Bởi vậy mà có người thức giả
nói rằng không có học trò ngu mà chỉ có thầy cô... dốt, vì dốt nên không
biết cách dạy, nên học trò không chịu học.
Người ở vai vế lớn, kẻ
cả, từng trải... thường muốn đem điều hay lẽ phải ở đời, đạo nghĩa thánh
hiền, dạy kẻ dưới gọi là “dạy bảo,”
như ông bà, cha mẹ “dạy bảo” con cái. Bạn bè ngang lứa mà lên mặt “dạy bảo” là
có chuyện mất đoàn kết. Đó là trường
hợp lên mặt “dạy đời.” Tuy có
nhiều người thích “dạy đời,” nhưng không mấy ai thích học với ông “thầy đời,”
dù “lời dạy” cho không, biếu không.
Trước khi con gái về nhà
chồng, người mẹ thường dạy con những điều hơn lẽ thiệt, ăn ở phải phép,
nhập gia tùy tục để gia đình bên chồng quý yêu và cha mẹ không bị mang
tiếng là không biết dạy con gái. Đó
là “dạy khôn, dạy khéo,” tức dạy ăn, dạy nói, dạy
gói, dạy mở, công dung ngôn hạnh… đủ điều. Nhưng cũng có nhiều bà mẹ đi xa hơn, dạy
thêm cách làm thế nào để... chồng tùng phục, tức dạy con gái mình làm “người
lãnh đạo” chồng con trong gia đình,
tức “thê xướng, phu tùy” của chế độ mẫu hệ thời cổ xưa.
Trong nghề dạy cũng có trường
hợp… bi tổ trác, vì không “biết người biết ta” nên “múa rìu
qua mắt thợ” như “dạy khỉ leo cây,” “dạy ông cống vào trường,”
“dạy thầy lang bóc thuốc”...
Dạy học, không có phương
pháp nào hữu hiệu hơn là dạy bằng hành động, làm gương
tốt, dù dạy chữ nghĩa, văn hóa hay dạy cách ăn ở, đạo đức ở đời. Thầy hay thì trò giỏi. Thầy cô dạy văn chương
mà viết văn bất thành cú, trật văn phạm, chánh tả như tình trạng hiện nay ở
Việt Nam thì làm sao học trò giỏi được.
Thầy cô nếu chỉ “talk” mà không “walk the talk” thì học trò không
phục, không chịu học và nghề dạy học biến thành nghề buôn/bán chữ.
Cha mẹ dạy con, thầy cô dạy học trò mà chủ trương “làm những gì ta
nói, đừng làm những gì ta làm” thì con cái, học trò không thể trở
nên người tốt được. Nếu con cái, học
trò ngỗ nghịch thì cũng là chuyện dễ hiểu, “cha nào con nấy,” “thầy
nào trò nấy,” “rau nào sâu nấy” mà. Phải đấm ngực mình mà nhận
tội!
Ở xã hội Việt Nam ta hiện
nay, ngoài nghề dạy chữ (phần phụ), các “kỹ sư tâm hồn” còn làm thêm
small business (phần chánh) như bán bánh kẹo cho học trò, “dạy kèm thêm”
ở nhà. Học trò nào nghèo, không có
tiền học thêm thì cuối năm cầm cờ đỏ hoặc thi rớt, rồi giã từ bè bạn, trường
học đi cầm cày, cầm cuốc là chuyện đương nhiên ở chế đỗ xã hội chủ nghĩa
ta. Tâm hồn trẻ thơ được các kỹ sư
tâm hồn “thiết kế” theo kiểu này thì bảo sao xã hội chẳng loạn lạc được.
Muốn làm nghề dạy học
phải làm học trò trước. Phải học mười
mới dám dạy một. Nhưng cũng có người
suốt đời chỉ “dám” làm học trò vì học hoài mà vẫn... không
hiểu. Hồi mới “giải phóng” miền Nam,
cụ Hồ được con cháu ca tụng là “người học trò trung thành của chủ nghĩa
Mác Lê!” Đi đâu, đầu đường xó
chợ nào cũng gặp câu nói thời danh đó.
Cụ Hồ là lãnh tụ vĩ đại mà “còn vậy” thì con cháu làm sao dám hơn cụ
được, đành phải bắt chước trung thành theo cụ cho phải đạo cháu con. Thế mà
ở trong nước, cụ làm thầy thiên hạ trong bất cứ lãnh vực nào. Đâu đâu cũng thấy ghi lời vàng ngọc cụ
“dạy”: y học, kiến trúc, văn chương,
cách mạng, lao động... Học trò đi thi mà chê lời cụ thì mang tội “khi
quân,” mất chỗ đội nón như chơi.
Thế mới biết cứ ráng mò lên được chức “lãnh đạo” rồi thì có
vạn kẻ “điếu đóm,” “nâng bi” tôn làm cha thiên hạ, làm thầy
cả nước!
Trẻ em càng nhỏ càng dễ dạy. Chờ cứng xương, cứng tay, cứng chân rồi
mới dạy, mới uốn nắn thì thế nào cũng gẫy.
Dạy con dạy thuở còn
thơ,
Dạy v. dạy thuở ban sơ
mới về.
Câu đầu ai cũng hiểu, cũng đồng ý.
Già trẻ, lớn bé, nam nữ đều “nhất trí.” Câu thứ hai xin để tùy bạn đọc. Ai có gan, có gồng thì cứ tự do bàn
thảo. Người viết xin im lặng, cúi đầu
vì không dám “vạch áo cho người xem lưng”... đầy vết thẹo (hậu quả của việc
“dạy vợ thuở ban sơ!”).
|