Đời Sống Kitô Hữu

 

Lễ NÔ-EN TẠI NÔNG TRƯỜNG U-MINH

VÀ SÔNG ĐỐC

 

Lm Nguyễn văn Nam

Cà Mau, 25/12/1980 …

Thời gian đã ba năm bà con giáo dân sống tại các nông trường miền cuối nước Việt. Cuộc sống vật chất tạm ổn. Người Bắc Bộ làm nhiều ăn ít. Ngược lại với người Nam Bộ làm ít ăn nhiều, không biết lo cho ngày mai “nhậu xả láng, sáng nhậu tiếp”.  Đời sống kinh tế ổn định, nhưng đời sống đạo không ổn định chút nào. Người miền Bắc quen đấu tranh, chịu đựng gian khổ, kiên trì … bà con giáo dân đã yêu cầu chính quyền đáp ứng nhu cầu tôn giáo: cho linh mục đến làm lễ, dạy giáo lý thường xuyên, có nhà thờ … Yêu cầu chính đáng không được đáp ứng thoả đáng. Vì thế một số giáo dân đã bỏ nông trường đi lên vùng Đồng Nai, Lâm Đồng lập nghiệp. Họ chỉ mong muốn đến được những nơi có nhà thờ. Thấy tình hình khó khăn cho nông trường, cần bà con ở lại sống chết với nông trường, nên ban chủ nhiệm có chiều hướng cởi mở hơn về vấn đề tôn giáo. Tuy nhiên cũng gặp rất nhiều cản trở tại địa phương cũng như ở cấp trên.

Theo chính sách về tôn giáo của nhà nước: tạo điều kiện thuận lợi cho các tín đồ Thiên Chúa Giáo và Tin Lành mừng lễ Noen. Nhân dịp Noen 1980, tôi được UBND tỉnh và mặt trận tỉnh cho phép đi làm lễ ở nông truờng U Minh và Sông Đốc.

Ngày 23/12/1980 tôi và dì Tám Rosa đến nông trường U Minh để chuẩn bị mừng Chúa Giáng Sinh. Trước hết chúng tôi phải trình giấy phép tại huyện Trần Văn Thời. Anh Ba Đình phụ trách tôn giáo xem giấy phép của tỉnh và anh ta giữ luôn. Anh nói với chúng tôi:

Linh mục và dì cứ đến ban chủ nhiệm nông trường U Minh trình diện là được. Tôi sẽ gọi điện thoại cho nông trường.

Có giấy phép của tỉnh làm bằng chứng, anh không trả lại cho tôi, tôi lấy gì mà trình!

Linh mục cứ an tâm, mọi sự ổn định hết rồi. Tôi bảo đảm cho linh mục.

Phương tiện đi lại lúc đó rất khó khăn, mất thời giờ nhiều. Mãi tới 12 giờ chúng tôi mới tới nông truờng U Minh và trình diện ban chủ nhiệm. Ban chủ nhiệm không dám giải quyết và dẫn chúng tôi đến trình diện chính quyền xã. Thời điểm lúc đó rất phức tạp. Người ta đi vựơt biên rất nhiều. Ai cũng có thể bị bắt và quy tội vượt biên. Người lạ mặt đều phải có giấy, kiểm tra, xét hỏi rất nghiêm ngặt. Tôi và dì tám Rosa cũng bị hồ nghi có ý đồ vượt biên. Anh chủ tịch xã nói với chúng tôi:

Anh chị đến đây chắc là đi vượt biên, chớ làm lễ Noen cái gì.

Tôi là linh mục ở nhà thờ Ao Kho, Cà Mau được UBND tỉnh cho phép đến U Minh để làm lễ Noen cho giáo dân. Giấy phép của chúng tôi huyện đang giữ.

Không thể tin anh được. Anh và cô này đến đây có ý đồ vượt biên.

Chúng tôi là những người tu hành không bao giờ có ý định đi vượt biên. Chúng tôi cam đoan với các anh điều đó.

Cuộc trao đổi hơi căng thẳng và gay go. Mỗi bên đều bảo vệ ý kiến của mình. Chúng tôi bị nghi oan “vượt biên”, càng phải mạnh mẽ để giữ vững lập trường. Sau cùng họ đưa chúng tôi về huyện Trần Văn Thời để xét lại giấy tờ. Tôi và dì tám được canh phòng rất cẩn mật trên chiếc xuồng đưa chúng tôi tới huyện, một anh công an với khẩu súng ngồi trước mũi xuồng và một anh lái máy. Trời đã về đêm. Gió lạnh từ đâu thổi tới. Chúng tôi cảm thấy lạnh vì gió biển, sóng nước. Tốc độ chiếc xuồng máy chạy lẹ làm cho làn gió mạnh hơn, lạnh hơn bình thường. Hai bên xuồng nước bắn lên với những luồn sáng như ánh đèn nê – ông. Dì tám Rosa ngồi im lặng lần chuỗi. Không biết dì có sợ không? Đời tu có bao giờ gặp cảnh như thế này không? Tôi rất bình tĩnh không chút sợ sệt. Tâm trí đang hướng về Ao Kho, xứ đạo mà tôi phụ trách. Đã hy sinh bỏ họ đạo để đến với bà con nông trường mà không được làm lễ Noen cho họ thì cũng hơi buồn. Tư tưởng cứ lan man quanh lễ Noen: Chúa Cứu Thế đã đem bình an, tình thương cho con người. Thế mà con người vẫn cứ làm khổ nhau.

Đến UBND huyện vào lúc 10 giờ tối. Mọi người đã đi ngủ. Cảnh vật im lìm. Khó khăn lắm anh công an mới kêu được anh ba Đình, người phụ trách tôn giáo để hỏi thăm về việc đi làm lễ Noen của chúng tôi. Anh ba Đình trao cho công an giấy phép của UBND tỉnh. Anh đọc đi đọc lại giấy phép của tỉnh …. Họ tách chúng tôi ra và hội ý riêng với nhau. Không biết họ bàn tính điều gì. Sau đó anh ba Đình gặp chúng tôi và anh cho biết:

Linh mục và dì phước về bàn với chính quyền địa phương sở tại để họ giải quyết cho làm lễ Noen.

Anh cho tôi xin lại giấy phép để tôi làm bằng chứng trình lên xã.

Anh ba trả lại cho tôi giấy phép và vui vẻ chào tạm biệt chúng tôi với lời chúc may mắn. Chiếc xuồng lại đua chúng tôi về nông trường U Minh giũa đêm khuya gió lạnh để hôm sau làm việc với UBND xã. Anh bảy Kinh, chi bộ ấp đón tiếp chúng tôi. Anh có nhiệm vụ quản lý chúng tôi chặt chẽ. Anh dẫn chúng tôi đến căn nhà lá đơn nghèo nàn để tạm nghỉ qua đêm. Anh bảy Kinh lúc đầu rất lạnh nhạt, nghi ngờ và để ý dò xét chúng tôi. Anh đề nghị:

Ở đây chỉ có hai chiếc gường, mà chúng ta có ba người. Tôi đề nghị với quý vị tu ngủ với tu, đời ngủ với đời.

Anh bảy nói chơi hay nói thiệt vậy? Tôi hỏi anh.

Tôi nói thiệt!

Tu hành chúng tôi không bao giờ ngủ chung. Tôi có ý kiến: dì tám ngủ một gường. Anh bảy ngủ một gường. Tôi đăng ký ngủ dưới nền nhà.

Thôi mà. Tội nghiệp linh mục. Linh mục ngủ chung với tôi cho vui.

Việc ngủ nghỉ được dàn xếp êm suôi. Đêm hôm đó tôi cũng như anh bảy Kinh không sao ngủ được. Chúng tôi bắt đầu làm quen với nhau qua việc thăm hỏi gia đình, công việc làm ăn …. Anh bảy tâm sự:

Cha tôi hồi xưa cũng là người có đạo. Ổng hay tới đài Đức Mẹ ở U minh để đọc kinh, vái lạy, cầu xin.

Má anh có đạo không? Tôi hỏi.

Má tôi không có đạo. Má tôi theo cha tôi.

Anh bảy theo cha hay   anh theo đạo nào?

Tôi theo đạo ông bà. Nói đúng ra không có đạo nào.

Linh mục gốc ở đâu?

Tôi là người Bắc Ninh.

Tôi cũng có dịp ở Bắc Ninh một thời gian. Bắc Ninh là đất quan họ. Tôi thuộc vài câu hát quan họ.

Chúng tôi trao đổi với nhau đủ thứ chuyện đạo đời, kinh tế, xã hội, thế thái nhân tình. Anh bảy đưa ra những thắc mắc về hôn nhân gia đình: luật nhà nước cho phép ly hôn. Tại sao đạo không cho phép ly hôn? muốn lấy người có đạo bắt buộc phải theo đạo. Như thế là không có tự do tín ngưỡng? … Tôi có dịp giải thích cho anh về luật hôn nhân của đạo. Từ ác cảm, không đồng quan điểm, nghi ngờ…chúng tôi đã trở nên thân thiện với nhau hơn. Anh bảy nhỏ hơn tôi hai tuổi, nên anh ta nhận tôi là anh. Một đêm qua đi tốt đẹp. Tưởng mọi sự cũng êm xuôi.

Mới sáng sớm, bà con giáo dân đã kéo đến gặp chúng tôi với vẻ mặt vui buồn lẫn lộn. Họ ước mong Noen năm nay có thánh lễ tại nông trường. Họ nài nỉ anh bảy Kinh giúp đỡ cho linh mục ở lại. Tháp tùng chúng tôi đến UBND xã có vài người giáo dân. Trình diện, trình giấy phép…sau cùng UBND xã không dám giải quyết chấp thuận cho tổ chức lễ Noen vì lý do từ xưa đến nay chưa có lễ Noen nào tại nông trường cả. Nông trường thì thuộc quyền nhà nước. Ban chủ nhiệm nông trường rất muốn có lễ Noen để an ủi giáo dân, cầm chân giaó dân ở lại đây. Nhưng UBND xã nhất quyết từ chối vì không bảo đảm an ninh trật tự. Anh bảy Kinh có phần ngã về phía chúng tôi, nhưng không dám đua ra ý kiến vì sợ liên lụy.

Thua keo này bày keo khác. Từ giã U Minh, chúng tôi đi nông trường Sông Đốc. Nơi đây có khoảng 50 gia đình công giáo. Hy vọng tình hình có thể khả quan hơn. Tới huyện Trần Văn Thời 5 giờ 30 chiều. Chúng tôi hỏi thăm tàu về Sông Đốc. Cô bán hàng tạp hoá cho biết:

Giờ này hết tàu đi Sông Đốc rồi.

Làm cách nào để đi Sông Đốc bây giờ? Chúng tôi có việc rất gấp.

Nghi là chúng tôi tìm đường vượt biên. Cô ta nói ngay:

Đêm UBND huyện bắt được hai anh chị vượt biên.

Chính chúng tôi bị dẫn lên huyện đêm qua. Tôi là linh mục và đây là dì phước. Chúng tôi đến nông trường Sông Đốc để làm lễ Noen.

Thưa cha, con cũng là người có đạo. Cô ta trả lời rất vui vẻ.

Chị có thể giúp chúng tôi tìm phương tiện đi Sông Đốc được không?

Chỉ có cách duy nhất là quá giang ghe đánh cá.

Ngày mai 25/12 là lễ Noen. Chị có đạo, chị còn nhớ Chúa không?

Con còn nhớ kinh Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng danh. Ở đây không có nhà thờ. Con bỏ đạo lâu lắm rồi.

Ghe đánh cá cho chúng tôi quá giang đến Sông Đốc. Trước tiên chúng tôi đến nhà bà tư An để xin tạm trú qua đêm. Bà tư An là bà con của Đức Cha Phạm Minh Mẫn, lúc đó ngài là Giám Đốc Đại Chủng Viện Cần Thơ.

Việc quan trọng nhất là tới chính quyền địa phương trình giấy để xin phép làm lễ Noen đêm nay. Hết giờ làm việc hành chánh, anh em công an đang nhậu rất vui vẻ. Tôi trình giấy tờ và xin phép làm lễ Noen. Chẳng ai còn đủ tỉnh táo để giải quyết đơn yêu cầu. Vì qua xỉn, anh công an trưởng cầm giấy đọc không chạy. Anh trả lại giấy cho tôi và hỏi:

Anh là linh mục phải không?

Dạ phải. Tôi là linh mục ở Cà Mau được UBND tỉnh cho phép đén đây làm lễ Noen.

Đi về ngủ. Ngày mai giải quyết. Hết giờ rồi.

Buồn quá! Đêm Noen đã tới. Giáo dân đang trông đợi cha xuống để cử hành mừng Chúa Giáng Sinh. Cha có đó, cũng như không. Năn nỉ yêu cầu, van xin cũng không được. Đành phải chờ ngày mai.

Đêm 24/12, tôi làm lễ Noen tại nhà bà tư An, trên sàn gác ván vì sợ vấn đề an ninh. Chỉ có tôi, dì tám Rosa và bà tư An dâng thánh lễ Noen mừng Chúa Giáng Sinh. Lo âu, sợ hãi, buồn nản làm cho con người hướng về Chúa, gắn bó với Chúa hơn. Thánh lễ thật đơn giản, thanh thoát, cảm động. Nhưng cũng thật ấn tượng và khó quên. Lễ Noen là đại lễ vui nhộn nhất của đạo, mà chỉ có ba người dự lễ kể cả chủ tế. Đó là một điều lạ lùng chưa từng thấy xảy ra trong một xã hội mà người ta chủ trương, đề cao tự do tín ngưỡng. Chính lúc con người bị tước đoạt mọi quyền lợi căn bản, bị áp bức, bị mất tất cả … lúc đó người ta mới thấy tính bất công, bất nhân trong xã hội: Nhân danh luật pháp để loại trừ người khác, làm khổ nhau, nghi ngờ nhau. Một việc làm thật thánh thiện và hợp pháp cũng bị cấm cản. Ở đời không có luật pháp nào cấm làm điều thiện. Ai đó đã mỉa mai “đời là thế, thế thời là thế”. Cha ông chúng ta thường nói: “Phép vua thua lệ làng”.

Sáng 25/12 tôi đến UBND xã trình giấy lần thứ hai và xin làm lễ Noen cho bà con giáo dân ở nông truờng Sông Đốc. Ông chủ tịch xã và anh trưởng công an thống nhất cho tổ chức lễ và khuyên nên tổ chức lễ Noen giản đơn và tiết kiệm.

Tôi và dì tám đến điểm làm lễ. Nhà nguyện làm bằng cây lá địa phương là căn nhà của một người giáo dân dâng hiến để làm nơi thờ tự. Giáo dân đã quy tụ đông đảo để chuẩn bị tham dự lễ. Tôi ngồi toà. Dì tám lo tập hát . Đúng 10 giờ sáng là thánh lễ mừng Chúa Giáng Sinh. Vì lý do đặc biệt mà hôm nay Chúa Sinh ra đời trễ hơn. Giáo dân miền Bắc rất trọng lễ nghi và hình thức. Hang đá đơn sơ với vài bóng đèn nê-ông lờ mờ, vài dây đèn tự động nhấp nháy, nhìn cũng vui vui. Xung quanh hang đá trang trí bằng lá dừa, cây chuối và vài chiếc đèn ngôi sao dán bằng giấy học trò. Cảnh hang đá Chúa Sinh ra đời quá nghèo nàn, có lẽ nghèo hơn cả hang đá Bê-lem năm xưa.

Giáo dân khoảng hơn 300 người. Họ tham dự lễ thật sốt sáng. Những bài thánh ca Noen xa xưa ai cũng thuộc được hát thật to theo cung giọng Bắc Bộ. Tiếng hát một giọng, tiếng đàn một cung, chẳng nhịp điệu gì cả, cũng chẳng du dương chút nào, nhưng có sức, có hồn vì tất cả đều hát hết mình để biểu lộ niền vui thánh thiện trong ngày lễ Noen.

Sau thánh lễ là tiệc liên hoan đơn giản trong bầu khí vui tươi và phấn khởi. Thực khách thì đông, thức ăn thanh đạm … nhưng rất thân mật, chan chứa tình người. Chúng tôi ở lại thêm hai ngày nữa để dạy giáo lý và dâng lễ cho bà con.

Nhận thấy đời sống đạo của anh em giáo dân nông trường Sông Đốc thật đáng thương. Họ như đàn chiên bơ vơ không người chăn dắt. Tâm hồn họ như những mảnh đất khô khan lâu ngày vì nắng hạn, khát mong trời mưa. Dịp lễ Noen đem đến cho họ những trận mưa rào thiêng liêng: mọi người đều xưng tội rước lễ. Bắt được nhiều cá lớn 20 năm,30 năm, 50 năm mới xưng tội. Ai nấy rất vui vẻ và phấn khởi. Điều chắc chắn là hồng ân của Chúa Hài Đồng đã tuôn trào trong tâm hồn họ. Bà con đều bày tỏ khát vọng có nhà thờ, có cha, có thày, có dì giúp đỡ về mặt đức tin:

Được phần xác, nhếch nhác phần hồn, chúng con không chịu nổi. Chúng con quyết tâm đấu tranh cho bằng được có nhà thờ. Nếu không có nhà thờ chúng con sẽ bỏ đi nơi khác.”

Những lời trên phát ra từ những con tim đạo đức chân thành. Ước vọng rất chính đáng. Tôi có linh cảm như một lời tiên đoán rằng: nơi vùng đất cuối Nước Việt, ở nông trường Sông Đốc, U Minh … sẽ có nhà thờ trong tương lai. Lời tiên đoán này có thể khả thi, nếu Chúa muốn.

Ước vọng thánh thiện của bà con giáo dân đã thành hiện thực. Suốt quá trình từ 1980-1995, số giáo dân ở các nông trường gia tăng nhiều. Nhà nước phải đáp ứng nhu cầu tôn giáo của họ. Sau bao năm tháng kiên trì cầu nguyện, đấu tranh, yêu cầu chính quyền bằng đủ mọi cách có thể. Nhà thờ U Minh, Khánh Hưng, Kinh Nước Lên, Kinh Ba, Đất Mới đã được xây dựng và hoàn thành. Còn nhà thờ Sông Đốc được phép nhà nước cho xây dựng và đã khởi công. Thực tế cho thấy Lời Chúa thật hiệu nghiệm: “Chúa nhận lời những kẻ hiệp nhau …xin thì sẽ được.”

Nhắc lại chuyện anh bảy Kinh với tôi ở nông trường U minh. Sau lần ngủ chung cùng gường, tôi và anh đã trở nên thân thiện. Tưởng như mọi chuyện đã qua và đi vào quên lãng. Năm 1990 anh bảy Kinh được điều ra tỉnh Cà Mau trong chức vụ trưởng ban tôn giáo tỉnh. Anh và vợ con trên chiếc Canô ghé thăm tôi ở Bàu Sen và tâm sự thời xa xưa rất thân tình. Anh đã có lần hãnh diện với bạn bè rằng: “Tôi đã được ngủ chung với linh mục…”. Anh cũng nhắc lại chuyện ở U Minh lúc tôi bị bắt với dì tám Rosa, khi anh đề nghị: “Tu ngủ chung với tu, đời với đời.”

Hôm đó trong bữa cơm trưa thân mật. Anh chị bảy Kinh chính thức kêu tôi bằng anh ba và bảo các con kêu tôi bằng bác. Hằng năm vào dip Tết Nguyên Đán, anh bảy đều đưa vợ con xuống Bàu Sen để chúc tuổi anh ba. Quà tết của anh thường là một chai rượu tây. Tôi đáp lại tặng anh một chai rượu lễ.

 

 

"..Go into whole world and proclaim the gospel to every creature(MK 16:15)"
For question or comments please write to Dan Than magazine

"copyright 2006"

Dan Than Magazine, P.O Box 5474 Katy, Texas 77491-5474
For questions about this site contact our Webmaster