Giáo Dục & Gia Đình

 

Yếu T Tâm Lý Xã Hi

 

Trong Câu Chuyn Ba Cha Con

 

Nguyễn Bửu Đồng

 

 

Dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu (Lc15:11-32)  trước nay được nhìn dưới ba góc cạnh khác nhau, liên hệ đến ba nhân vật: người cha, người anh cả và người con thứ.  Người cha là hình ảnh nhân lành của Thiên Chúa, luôn luôn yêu thương và tha thứ mọi tội lỗi của loài người thụ tạo.  Người con thứ là hình ảnh của mỗi người chúng ta, sống yếu hèn, tội lỗi và chỉ khi nào túng cùng mới chịu quay về van xin tha thứ, rồi nhờ sự khoan hồng, rộng lượng của Thiên Chúa mà thật sự ăn năn sám hối.  người anh cả cũng chính là hình ảnh của mỗi người khi chúng ta sống kiêu ngạo, giữ lề luật bề ngoài nhưng cho mình đạo đức hơn người, phê phán người chung quanh như những người biệt phái Pha-ri-sêu khi xưa.

 

Trong Thánh Kinh, “dụ ngôn” (parable) là câu chuyện do Chúa Yê-su kể để giảng dạy các tông đồ, hàm chứa một ý nghĩa tôn giáo, đức tin.   Ở đây, người viết mượn ý và tình tiết từ dụ ngôn để xây dựng một “câu chuyện” tương tự ở thế trần (story).   Câu chuyện  Ba Cha Con”,  do đó, được phân tích như một trường hợp điển hình xảy ra trong gia đình bất cứ đâu, qua cái nhìn tâm lý xã hội,  và từ đó rút ra những bài học thực tế.

 

BỐI CẢNH CÂU CHUYỆN VÀ NGƯỜI CHA

 

Người kia có hai người con trai. Ông rất mực yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ hai con như bất cứ người cha nào.  Nhưng từ khi vợ mất, ông để tâm trí nhiều hơn vào công việc làm ăn hầu tạo dựng cho hai con một gia sản ở tương lai.  Người anh với tuổi đời lớn hơn và sự hiểu biết nhiều hơn được cha tin cậy, thường giao nhiều việc quan trọng và luôn cố gắng chu toàn.  Điều này khiến người em phật lòng và so bì, cảm thấy mình không được cha thương yêu, quí trọng như anh.  Một hôm người con thứ nói với cha rằng, “Thưa cha, xin cha chia cho con phần tài sản con được hưởng.”

 

Cha mẹ nào trong hoàn cảnh này chắc cũng ngạc nhiên và lo lắng.  Ngạc nhiên vì nay thấy con mình, qua lời nói đó, đã trưởng thành hơn mình nghĩ, muốn có một đời sống tư riêng độc lập, không còn muốn ở với mẹ cha.  Lo lắng vì không biết con mình đã thật sự trưởng thành chưa hay đó chỉ là một ý nghĩ ngông cuồng bốc đồng muốn làm người lớn, trong khi anh nó, với tuổi đời lớn hơn, vẫn còn nương náu dưới mái ấm gia đình.  Không lo lắng sao được khi biết con mình, kinh nghiệm đời chưa có, từ nay sẽ phải đối phó với những bất trắc của cuộc đời đang chờ đón.  Người cha đã suy nghĩ nhiều trước khi quyết định.  Ông biết đây là một quyết định rất quan trọng, không những cho con mà cho ông và cả anh nó nữa.  Nói khác đi, quyết định của ông ảnh hưởng đến mọi người trong gia đình.  Ông không giận dữ, rầy la.   Chính con cái, không phải cha mẹ, chọn lựa và quyết định về cuộc sống tương lai của mình. 

 

Con ông đã trưởng thành và lựa chọn.  Ông tôn trọng sự lựa chọn của con và làm theo lời yêu cầu của người con thứ.  Ông cũng hiểu rằng sau khi được chia gia tài, đứa con của mình sẽ không còn lưu lại với mình bao lâu nữa...

 

Kể từ khi người con thứ rời nhà đi sống ở phương xa, không một phút giây nào người cha không nghĩ tới con.  Ông luôn nguyện cầu cho con được mọi điều tốt đẹp trong cuộc sống mới và ước mong có ngày con hồi tâm quay về.  Mỗi ngày,  trong những lúc nghỉ ngơi sau giờ làm việc, ông đã cố nhìn từ chân trời xa với hy vọng tìm thấy một bóng hình quen thuộc thân yêu đang tiến về mình.  Có những buổi chiều hôm trước khi trời sụp tối, ông đã ra tận cửa ngóng trông con mình, nhớ lại những kỷ niệm yêu thương khi cha con gần gũi nhau. Nhiều đêm ông đã mơ nghe tiếng gõ cửa và lời con rụt rè:  Cha ơi, con về đây... Cũng có lúc ông định lên đường tìm gặp con mình để biết cuộc sống của con ra sao và nâng đỡ, nếu cần.  Nhưng con ông như chim trời, cá nước, biết đâu mà tìm!  Tình cảm của người cha bây giờ dành trọn cho người con thứ ở phương xa:  yêu thương, lo lắng, và mỏi mòn trông đợi con về.

 

Rồi một ngày... người cha chợt thấy từ xa một hình bóng quen thuộc, đói rách, tả tơi đang đi về phía mình... Chính con mình, không ai khác!  Làm sao ông có thể lẫn lộn được hình bóng thương yêu mà ông đã ấp ủ từ lúc còn bé, và nuôi dạy đến lớn khôn?  Có người cha, người mẹ nào không nhận ra con mình dù thời gian xa cách đã làm đổi thay dung mạo?  Con ta đã trở về!  Ông mừng rỡ la to như đứa trẻ thơ.  Ông hối hả chạy đến ôm chầm lấy con, bá cổ, hôn lấy hôn để, hôn không ngừng nghỉ như lúc con còn bé dại ở nhà.  Ông xót thương thấy con tiều tụy.  Ông bảo các người giúp việc mau mang áo giày đẹp nhất ra cho con thay.

 

Sự vui mừng của ông nếu chỉ dừng lại ở đó thì cũng chưa diễn tả được biến cố quan trọng này:   Con ta đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.”   Niềm vui chia sẻ thêm vui.  Ông muốn mọi người cùng chia sẻ niềm vui to lớn đó với mình.  Ông bảo người giúp việc bắt con bê béo nhất làm thịt để mọi người cùng ăn mừng.  Có thể nói giờ phút này là điểm cao nhất của hạnh phúc, của hoan lạc vui mừng mà người cha đã tìm lại được từ lúc người con thứ bỏ nhà ra đi.  Không có trách móc, oán hờn, giận dỗi.  Chỉ có tha thứ, khoan dung. mừng vui vì con ta nay đã trở về.  Không nói ra nhưng ai cũng hiểu rằng ông mong muốn con mình từ nay sẽ sống tốt lành.  Hình ảnh đứa con phung phá, hoang đàng đòi chia gia tài trước đây nay đã chết.  Giờ chỉ còn lại đứa con mới, biết hối cải ăn năn để ông thân thương quí mến như từ trước đến giờ.  Ông đã tìm lại được một báu vật tưởng đã mất.

 

Lòng cha (mẹ) bao la như biển Thái Bình dạt dào...

 

NGƯỜI CON THỨ/NGƯỜI EM

 

Thấy anh thường được cha giao nhiều việc quan trọng, người em cảm thấy mình bị bỏ rơi.  Thêm vào đó, với lời nói ra nói vào của bạn bè trang lứa, người em sợ sau này khi cha mất anh mình sẽ dành hưởng trọn gia tài của cha.  Một ngày kia, người con thứ xin cha chia gia tài để có một cuộc sống tự do, hợp sở thích, nhất là không bị ràng buộc, giới hạn bởi những nguyên tắc sống chung, những lời nói hay cái nhìn nghiêm khắc của cha, anh.

 

Được phần gia tài, người con thứ vội ra đi để có một cuộc sống mới.  Như con chim bị nhốt trong lồng lâu ngày, giờ đây anh tha hồ bay nhảy.  Không còn ai cấm đoán, cản ngăn, anh sống cho mình, sống theo sở thích riêng.  Được độc lập, tự do, anh đi tìm hạnh phúc... Với tiền của cha chia cho, anh sống hưởng thụ, tìm vui cả ngày.  Quanh anh là những bạn thân tình, cùng sở thích.  Anh đâu còn thì giờ để nghĩ đến cha, đến anh mình.  Anh đâu biết rằng trong lúc anh đang mua vui giữa những điệu nhạc, tiếng cười thì cha anh ở nhà đang mòn mỏi ngóng trông, chờ đợi, mong anh về để cha con, anh em sum họp.  Đôi lúc chạnh lòng, anh cũng thoáng nghĩ đến cha, đến anh ở nhà, nhưng chỉ là sự hối tiếc... Tiếc sao mình không “thoát ly” sớm hơn để khỏi uổng phí cuộc đời?  Lúc còn ở nhà với cha, anh đâu biết được những vui thú cuộc đời anh đang tận hưởng.  Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với cha (mẹ) biết ngày nào vui...

 

Cuộc hành lạc bao nhiêu lãi đấy

Nếu không chơi thiệt ấy ai bù...

                      Nguyễn Công Trứ

 

Nhưng đời sống hưởng thụ, phóng đãng của anh không thể kéo dài vô tận.  Núi lở, non mòn.  Đến lúc trắng tay, tiền của hết sạch, bạn bè xa lánh, anh lâm cảnh đói khổ.  Anh phải đi làm công để sống, vất vả ra đồng chăn heo.  Khi đói anh chỉ mơ ước có thức ăn của heo để tạm no lòng nhưng không ai cho.  Bây giờ anh mới nhớ lại cuộc sống no đủ trước đây ở nhà, so sánh và ao ước trở về.  Biết bao người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa mà ta ở đây lại chết đói!  Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa.  Xin cha coi con như một người làm công của cha vậy.’”  Thế rồi anh đứng lên đi về cùng cha.

 

Người con thứ đã trở về... Nhưng động lực khiến anh trở về không phải là lòng hiếu thảo, thương cha, nhớ anh, không phải là sự ăn năn, hối hận về việc làm sai quấy đã qua của mình.  Anh trở về chỉ vì anh đói.  Đói quá!  Đói không chịu nổi!  Anh phải đi chăn heo mà không đủ ăn, anh không chịu được cuộc sống lao động vất vả, kham khổ, bữa đói, bữa no.  Anh chỉ có thân người mà sống không ra người.  Nếu còn tiền của để vung phí chắc chắn anh đã chưa trở về.  Anh còn muốn thụ hưởng.  Anh đã cân nhắc thật kỹ, so đo tính toán từng ly và thấy rằng những người làm công của cha mình đang có cuộc sống dư thừa, còn anh dù chỉ mơ ước thức ăn dành cho heo lợn cũng không có.  Đó là lý do khiến anh trở về.  Nếu cha anh lâm cảnh phá sản, phải đi làm công bữa đói bữa no như anh, liệu anh có trở về không?  Trên đường về, có thể anh cũng chưa thực sự hồi tâm, chưa thấy những sai quấy của mình.  Anh mong gặp lại cha để được ăn ngon mặc đẹp, thế thôi!  Nhưng chính lòng nhân hậu, sự vui mừng đón nhận không quở trách của người cha đã đánh động, làm anh thức tỉnh.  Chẳng những không rầy la, người cha còn bày tiệc ăn mừng anh trở về.  Chính lúc đó anh mới ăn năn, hoán cải thật sự.  Chính lúc đó anh mới cảm thấy được tình thương yêu không bờ bến của cha mình.

 

Cha mẹ thương con như biển trời lai láng...

 

NGƯỜI CON CẢ/NGƯỜI ANH

 

Khác với người em vốn ồn ào, ham vui, người anh vốn trầm lăng, cần cù, chịu khó.  Nhờ đó anh được cha giao trách nhiệm giúp cha trong việc quản lý kẻ ăn người ở và những công việc đồng áng khác.  Anh rất mực chăm chỉ làm việc, luôn luôn cố gắng làm đúng theo lời cha bảo.  Việc nào cha giao anh cũng chu toàn.

 

Khi nghe em đòi cha chia phần gia tài để đi xa, anh buồn lắm.  Hai anh em trước giờ vui buồn có nhau.  Anh chỉ mong em đổi ý để cha không buồn phiền.  Anh cũng mong cha đừng làm theo ý của em để anh em tiếp tục chia sẻ buồn vui, nâng đỡ nhau dưới cùng một mái ấm gia đình như trước nay.

 

Khi người em được chia gia tài và bỏ nhà ra đi, người anh đã phải gánh thêm trách nhiệm giúp cha.  Bây giờ còn ai đâu...  Nhưng từ dạo đó, sau những buổi làm việc bận bịu ngoài đồng về, anh thấy cha thẫn thờ vào ra như trông ngóng một bóng hình nào ở phương trời xa.  Anh để ý thấy cha lo lắng, ít nói hơn.  Những buổi chiều hai cha con ngồi lại để kiểm điểm công việc đã làm trong ngày và dự định công việc cho ngày sau cũng thưa dần.  Anh cũng không có nhiều dịp để chuyện trò với cha như trước.  Dù anh có mặt ở nhà, nhưng anh không còn quan trọng.  Anh chỉ còn là cái bóng bên cạnh đứa em đang ở xa; và dù đang sống phóng đãng nó vẫn luôn được cha quan tâm, tưởng nhớ tới.

 

Đôi khi một mình thui thủi, anh nghĩ tới lúc em mình còn ở nhà, nó hay đòi này hỏi nọ và được cha chìu.  Phần anh, anh chỉ biết chăm lo làm việc, chẳng dám hở môi xin cha điều gì.  Anh nhớ có lần anh muốn xin cha một con dê con để tiệc mừng với bạn bè.  Anh nhìn cha do dự vì thấy cha nghiêm khắc quá.  Anh mong cha hiểu ý, mở lời để anh hỏi xin, nhưng cha vô tình không để ý tới.  Sao cha không hỏi?  Cha biết anh ít nói mà! Nếu em anh ở trong trường hợp  đó, nó chưa kịp mở miệng xin chắc cha đã cho nó rồi! Ngay như việc nó đòi chia gia tài để tiêu phí, cha cũng chìu theo ý nó.  Nó chỉ biết ăn xài, có giúp cha nhiều như anh đâu.  Anh tự trách mình  không bạo mồm bạo miệng như em, dám hỏi, dám xin.  Nhưng biết sao, trời đã sanh ra anh như vậy.  Có lần anh chợt có ý nghĩ bỏ nhà đi xa như em để may ra được cha lưu ý, quan tâm.  Anh sẽ ra đi một cách lặng lẽ, âm thầm, không đòi chia gia tài như em của mình.  Nhưng ai sẽ chăm nom săn sóc cha, ai sẽ giúp cha những công việc mà anh đang làm?   Cha già rồi...  Anh cảm thấy mình có lỗi với cha, dù đó chỉ mới là ý nghĩ.  Anh buồn, không tỏ lộ cùng cha. Tâm tư gói kín,  một mình mình biết, một mình mình hay...

 

Một hôm, như mọi khi, sau một ngày vất vả, mệt nhọc với công việc đồng áng, anh thui thủi về nhà.  Gần đến nhà, anh nghe tiếng đàn ca, hát múa từ bên trong vọng ra, bèn gọi người giúp việc hỏi xem chuyện gì.  Người giúp việc trả lời: Em cậu đã về, và cha cậu đã cho làm con bê béo ăn mừng.”  Anh nổi giận, không chịu vào nhà.  Cha anh ra năn nỉ.  Bao nhiêu buồn phiền chất chứa bấy lâu, bao nhiêu ưu tư cố đè nén nay được dịp thoát ra: Cha coi, đã bao nhiêu năm trời, con hầu hạ cha và chẳng khi nào trái lịnh, thế mà chưa bao giờ cha cho con một con dê con để ăn mừng với bạn bè! Còn thằng con cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về thì cha cho giết con bê để ăn mừng!”   Người cha nói với anh:  Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con.  Nhưng chúng ta phải ăn mừng hoan hỉ vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.”  Nghe những lời cha chân thành bộc lộ, anh chợt thấy mình có lỗi, có lỗi với cha và có lỗi với em.  Tình yêu của cha đối với anh, dù từ lâu không bày tỏ, vẫn còn đó, tràn đầy.  Anh đã hiểu lầm.  Anh cảm thấy mình nhỏ nhen, ganh tị với em thay vì vui mừng vì từ nay anh em đoàn tụ, có nhau.  Anh xin lỗi cha và chạy nhanh vào nhà ôm em xúc động.  Anh cùng với mọi người chung vui, mừng em trở về.

 

YẾU TỐ TÂM LÝ XÃ HỘI TRONG CÂU CHUYỆN

 

Những sự phân tích trên giúp chúng ta hiểu rõ tâm lý của từng nhân vật trong câu chuyện, và do đó hiểu được tình cảm cũng như hành động của mỗi người.  Ai không vui mừng khi tìm lại được vật đã mất sau bao nhiêu ngày không ngừng tìm kiếm?  Ai không hân hoan khi gặp lại bạn bè sau những năm tháng dài xa vắng?  Ai không mừng rỡ gặp lại người thân yêu ngàn trùng xa cách sau những cuộc bể dâu đổi đời?... Cuộc đời hợp tan, tan hợp...  Nhưng  trong sự tan hợp dường như  thời gian , mong đợi    bất ngờ  là yếu tố làm tăng thêm nỗi vui mừng.   Cách xa lâu, liên lỉ ước mong gặp lại và sự tái hợp trong hoàn cảnh bất ngờ khiến cho niềm hân hoan trào dâng khôn tả.

 

Thương    nhớ đi liền nhau như hình với bóng.  Thương nhớ, nhớ thương.  Vì thương nên nhớ và nhớ vì đang cách xa.  Càng nhớ càng thương nhiều hơn.  Không ai nghi ngờ về tình yêu thương của người cha đối với hai con.  Ông thương hai con như nhau.  Có lẽ trước khi đứa con thứ đòi cha chia cho mình phần gia tài và bỏ nhà đi xa, người cha chưa cảm nghiệm được tình yêu của mình dành cho con đến mức nào.  Nhiều lắm là ông chỉ biết mình thương con “thật nhiều”, thế thôi!  Phải cho đến khi người con thứ bỏ nhà ra đi xa, ông mới cảm được sự nhớ thương đó.  Ông nhớ vì con nay đã đi xa. Ông nghĩ đến con nhiều hơn, lo lắng không biết bây giờ con sống ra sao, và thương con nhiều hơn trước.  Ông mỏi mòn trông con trở về để gia đình cha con, anh em sum họp.  Rồi một ngày kia, người con thứ bất ngờ trở về.   Xa cách, nhớ thương, mong đợi, và bất ngờ đã làm ông vui mừng khôn tả.   Thật khó mà tưởng tượng được sự mừng vui  của ông nếu không ở trong hoàn cảnh đó.  Có thể ông tung tăng nhảy múa, la to như đứa trẻ lên ba.  Cũng có thể ông khóc... Đó chỉ là những cách thế bày tỏ sự mừng vui.  Sự bất ngờ làm ông quên hết những sai trái của con.  Thật ra ông cũng không có thời giờ để nghĩ đến những điều đó.  Ông bày tiệc ăn mừng để mọi người chung vui.

 

Không ai tìm vật chưa mất.  Không ai nhớ người có mặt vì người có mặt lúc nào cũng hiện diện, không gây được “sự nhớ.”      Người anh cả ở trong trường hợp này.  Cha anh không bao giờ “nhớ anh” vì “lúc nào con cũng ở với cha.”  Do đó, có thể nói là từ lúc người con thứ bỏ nhà ra đi, người cha đã dành trọn thời giờ và tâm trí cho người con thứ:  nhớ thương và thương nhớ.  Và ông xem đó là điều tự nhiên.  Ông không hề nghĩ đến trường hợp có thể xảy ra:  người con cả buồn lòng, ra đi như em nó!  Nói khác đi, ông chưa học được bài học về sự ra đi của đứa con thứ.  Ông chưa tỉnh thức.  Ông hoàn toàn vô tình, quên rằng mình còn có một đứa con khác đang ở nhà, cũng cần sự chú ý quan tâm. 

 

Người cha vẫn thương người con cả như từ trước đến giờ, nhưng đó là một tình yêu không bộc lộ, không diễn tả, không nói, không lời, một thứ “tình yêu để bụng,” được hiểu ngầm:  tất cả những gì của cha đều là của con.”  Trái lại tình yêu ông dành cho người con thứ là tình yêu nhớ thương, lo lắng ngày đêm, buồn vui thể hiện:  Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng.   Khi diễn giảng dụ ngôn, nhiều người đã lên án lòng nhỏ nhen, hẹp hòi của người anh đối với em, và sự hằn học cố chấp đối với cả cha mình.  Nhưng trong câu chuyện ở thế gian, về phương diện tâm lý,  phản ứng của người con cả là phản ứng tự nhiên, bình thường, cần thiết, và lành mạnh (healthy reaction).  Phản ứng rất “con người!”  Người anh kiên nhẫn, biết tự chế, đè nén sự bực bội của mình (quá lâu!)  Ai trong chúng ta, nếu ở trong cảnh huống của người anh, dám chắc rằng mình sẽ có một tâm tình hay phản ứng tốt đẹp hơn, rộng lượng hơn?

 

Phản ứng của người anh đã được “xì ra” đúng lúc, nhờ đó đã giải tỏa được những ấm ức cố che dấu trong lòng từ lâu.  Anh đã bị “depressed!”  Nếu người anh cứ cố đè nén, cứ tiếp tục giữ kín như trước nay, sống giả hình để được thế gian tâng bốc, khen tụng, thì chắc gì tình anh em ruột thịt sẽ mãi tốt đẹp sau ngày đoàn tụ, chưa kể những hậu quả trầm trọng khác như bệnh tâm thần?  Phản ứng đó rất cần thiết để giúp người cha nhận ra sự vô tình trước nay của mình đối với người con lớn, là dịp để ông bày tỏ lòng yêu thương của mình đối với con. 

 

Khi anh giận không vào nhà chung vui với mọi người, người cha đã chợt nhận ra sự thiếu sót của mình đối với con trong thời gian qua.  Ông không buồn phiền về thái độ của con.  Nó làm ông thức tỉnh.  Ông rời bàn tiệc ra ngoài năn nỉ con, mời gọi con vào.  Ông tha thiết nói với con: Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con.”  Với giọng nói ngọt ngào, người cha đã bộc lộ hết nỗi lòng của mình đối với con.  Nếu người anh không hờn giận, chạy ngay vào nhà để mừng vui với em và với mọi người, liệu cha anh có thốt những lời thân thương đó không?  Người con cả có thể xúc động và hối hận về thái độ nông nổi của mình đối với cha, với em.  Nhưng dù sao, sau lời nói ngọt ngào đó, người cha cũng cần phải có những hành động cụ thể, cử chỉ trìu mến, yêu thương; nói khác đi, một tình yêu biểu lộ đối với người con cả.  Nếu người cha đã hoán cải được người con thứ bằng thứ tình yêu vô điều kiện thể hiện bằng hành động tha thứ, bao dung thì người con cả cũng cần có một tình yêu cụ thể của cha để an tâm tiến bước trên đường đời.

 

BÀI HỌC CHO ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH

 

Câu chuyện Ba Cha Con” câu chuyện có hậu (a happy ending story).  Sau một thời gian giận cha bỏ nhà đi hoang, người con thứ đã biết hối cải trở về, xin cha tha lỗi.  Người con cả hiểu được lòng cha thương yêu mình hết mực dù không bộc lộ, nói ra.  Gia đình cha con, anh em đoàn tụ vui vầy.  Thế nhưng trong đời sống thực tế hằng ngày, bao nhiêu người con thứ có đủ thời gian và cơ hội để ăn năn, hối cải, quay về, hay ra đi không bao giờ trở lại?  Bao nhiêu người anh cả đã kiềm hãm được lòng ganh tị nhất thời để có cơ hội hiểu được lòng cha mẹ vẫn luôn luôn tha thiết yêu thương mình?  Những thanh thiếu niên bỏ nhà đi hoang, bụi đời... phải chăng có nguồn gốc, nguyên do từ gia đình?

 

Nhìn kỹ, chúng ta thấy gia đình này có vấn đề hiểu lầm.  Hiểu lầm giữa cha con và hiểu lầm giữa anh em.  Hiểu lầm vì thiếu sự thông cảm. Giữa cha con, anh em không có sự thông đạt (communication) tạo gắn bó, gần gũi.  Hiểu lầm tạo ra ngăn cách giữa cha con, chia rẽ giữa anh em.  Và đây cũng là một vấn đề chung của hầu hết mọi gia đình.  Chắc chắn không ai nghi ngờ gì về tình thương yêu của người cha đối với hai con.  Nhưng sao người con thứ không tin tưởng vào tình thương yêu đó?  Anh bỏ nhà ra đi vì nghĩ nơi đó không phải là tổ ấm đầy tình thương, anh chỉ là cái bóng mờ bên cạnh anh mình.  Nói khác đi, anh nghĩ anh không phải là một thành phần quan trọng, có mặt hay không cũng không cần thiết cho ai.  Do đó, anh đã bị bạn bè quyến rũ vì họ biết cách tâng bốc anh khiến anh thấy mình thật sự có giá trị giữa đám bạn bè trang lứa.

 

Đây không phải là một gia đình nghèo.  Tiền bạc dư giả, kẻ ăn người ở lúc nào cũng đầy nhà... Có lẽ sau khi vợ mất, hai con còn nhỏ dại, người cha đã hy sinh không bước đi bước nữa, cố gắng làm việc để lo cho tương lai hai con sau này.  Tài sản ông có là thành quả hiển nhiên của sự làm việc không ngừng nghỉ đó.  Thế nhưng đối với hai con, nhất là người con thứ điều đó chưa đủ.  Cái quan trọng hơn đối với hai con là  thời gian  cha con quay quần, chuyện trò, tâm tình, giải trí, đùa giỡn... thì ông không có.  Sau một ngày bận rộn với công việc, ông mệt lả người, và chỉ muốn nghỉ ngơi lấy sức cho ngày mai.  Những lần ông nói chuyện với người con cả chắc cũng chỉ là để giao việc, căn dặn này nọ.  Hai con vắng bàn tay chăm sóc của người mẹ hiền từ nhỏ, ít có dịp chuyện trò thân mật với cha khi lớn.  Người anh cả nhờ có công việc của cha giao, bận bịu cả ngày.  Người con thứ thừa giờ rảnh, giao du với bạn bè, nghe lời nói ra nói vào rồi ganh tị với anh, giận cha, đòi chia gia tài...  Rồi người anh cả ganh tị với em vì thấy, từ ngày em mình bỏ nhà ra đi, cha không còn quan tâm đến mình mặc dù mình luôn luôn có mặt bên cha, giúp cha nhiều việc.  Điểm nổi bật trong câu chuyện là người cha đã thật tình quên hết và tha thứ mọi hành động sai quấy của người con thứ;  ông cũng nhận ra sự thiếu sót của mình đối với người con cả trong thời gian qua.     Nhờ đó mọi hiểu lầm giữa cha con, anh em được giải tỏa.  Mọi người nay đã hiểu rõ lòng nhau.  Thử đặt mình vào hoàn cảnh người cha, bao nhiêu người trong chúng ta dám nghĩ mình có thể xử sự tốt lành như vậy?

 

Trong bối cảnh truyền thống văn hóa Á Đông,  hình ảnh người cha nhân từ trong câu chuyện thật khó mà cảm nhận được.  Trong thực tế hằng ngày, khi người con thứ ăn năn trở về, người cha (Việt Nam) nếu không mắng quát, rầy la là... phước đức ông bà rồi, có đâu chạy ra nhảy mừng ôm con, mời vào và bày tiệc ăn mừng.   Nhưng nếu thay thế hình ảnh người cha bằng bóng dáng người mẹ thì tình cảm câu chuyện trở nên tự nhiên hơn, gần gũi hơn, và sự yêu thương của người mẹ đối với con cái sẽ được cảm nghiệm dễ dàng.  Cho nên trong gia đình, bất cứ ở xã hội nào, con cái thường dễ dàng nhận biết tình yêu thương của mẹ hơn là của cha, dù cả cha lẫn mẹ đều thương con, mỗi người một cách riêng.   Một phần do sự gần gũi tự nhiên, thời gian cưu mang chín tháng và sự chăm sóc bú mớm lúc còn nhỏ dại; phần khác định kiến xã hội về phái tính, về vai trò của người nam và người nữ, và giáo dục khiến người cha cầm nén bộc lộ tình cảm của mình, ngay cả đối với con cái.  Con cái thường nhìn cha như ông tòa xét đoán phải trái hoặc người cảnh sát chực chờ phạt khi mình phạm luật.  Và người cha cũng thường củng cố cái nhận thức lệch lạc đó bằng cách tỏ ra khó khăn, nghiêm khắc, thương con nhưng để bụng. 

 

Tình yêu không bộc lộ bằng hành động trìu mến, cử chỉ yêu thương, lời nói tha thiết..., nói khác đi, tình yêu câm nín, tình yêu để bụng là tình yêu chết.   Ngay Thiên Chúa cũng  không muốn chúng ta yêu Ngài bằng tình yêu đóng kín qua sự âm thầm cầu nguyện mà bằng tình yêu bày tỏ, bộc lộ qua hành động thương mến tha nhân.  Nhiều người nghĩ rằng hành động có giá trị hơn lời nói nên không mấy quan tâm mà quên rằng nói năng cũng là hành động.  Hẳn nhiên nếu chỉ yêu thương bằng lời nói thì không đủ.  Chính lời nói giúp củng cố và phát triển tình yêu trong gia đình.  Con cái khi tuổi còn nhỏ, không phải lúc nào cũng có thể cảm nghiệm được tình yêu thương của cha mẹ.  Cử chỉ trìu mến, lời nói yêu thương của cha mẹ cần thiết để thể hiện lòng yêu thương đối với con, giúp con cái tạo dựng một hình ảnh tích cực,  tốt đẹp về chính mình (self-image, self-esteem) khi còn bé và sẽ giúp thành công khi ra đời sau này.

 

Ganh tị, so bì là chuyện thường xảy ra trong gia đình , nhất là những gia đình đông con, tuổi tác cách biệt.  Một em bé mới sinh được cha mẹ chú ý nâng niu, một đứa con có nhiều ưu điểm bề ngoài được cha mẹ khen thưởng... thường là những cơ hội để anh chị em so bì, hờn giận.  Như thời tiết nắng mưa, nó đến rồi đi, đi rồi đến.  Sở dĩ có ganh tị, so bì vì  một hay nhiều đứa con “cảm thấy” mình bị bỏ rơi, lãng quên, không được chú ý, thương yêu như những đứa con khác.  Thông thường, đứa con đầu lòng được cha mẹ, gia đình lưu tâm, chăm sóc; đứa con út được nuông chìu; và những đứa con giữa thường cảm thấy bị bỏ quên, không được cha mẹ lưu ý, thương yêu nên không nghĩ mình là thành phần quan trọng trong gia đình. Cho nên những đứa con giữa thường cố gây sự chú ý bằng hành động chống đối, nghịch ngợm, làm ngược lại lời cha mẹ, hay tệ hại hơn, bỏ nhà đi hoang theo lời xúi biểu của bạn bè cùng lứa. Người em trong câu chuyện, dù không phải là con giữa, nhưng thiếu sự chăm sóc vì mẹ mất sớm, cha bận lo sinh kế nuôi gia đình, có thể chỉ muốn được cha,  anh chú ý khi xin chia phần gia tài, nhưng cha anh không biết. Do đó, cha mẹ cần có sự khéo léo, tế nhị trong cách đối xử và giải quyết để nó không trở thành một vấn đề quan trọng gây chia rẽ giữa anh chị em.  Những đứa trẻ chậm chạp, ít nói hay không có gì để “cha mẹ hãnh diện” thường sống thu mình và từ đó mặc cảm tự ti có cơ hội chớm nở, hình thành.

 

Trẻ em ở lứa tuổi thiếu niên luôn luôn cần được yêu thương, nâng đỡ, tin cậy, cần sự hướng dẫn của cha mẹ hay anh chị trưởng thành để học hỏi về trách nhiệm và tinh thần tự lập.  Thiếu niên nào cũng thích được chỉ dạy để học hỏi, nhưng không thích lắng nghe “giọng cha chú”, “dạy đời,” “kẻ cả,” dù từ cha mẹ, cô bác hay anh chị mình.    Cha mẹ Việt Nam trong việc dạy dỗ con cái thường chú trọng đến những điều cấm đoán, không được làm mà không giải thích rõ ràng, thay vì chú tâm đến những điều con cái nên làm.  Mặt khác, cha mẹ cũng thường chú trọng đến những trừng phạt khi con cái phạm lỗI, thay vì chỉ dạy cách để tránh, ngăn ngừa, hay không  tái phạm. 

 

Thời gian là món quá quí giá nhất mà cha mẹ cần dành tặng cho con cái khi còn nhỏ . Trong cuộc sống bận rộn hằng ngày, nhiều cha mẹ không còn thì giờ để quan tâm đến những thay đổi tâm thể lý, những khó khăn, áp lực của bạn bè cùng lứa... mà con cái mình đang trải qua hay phải đối phó, nhất là ở lứa tuổi 13 – 19 (teens).  Nhiều người đã thay thế thời gian dành cho con bằng những quà tặng đắc tiền do công sức mình làm ra, nhưng kết quả thường ngược sự mong muốn.  Cha mẹ chuyện trò với con cái hằng ngày, hỏi han, tìm hiểu để nâng đỡ, những buổi sinh hoạt chung và thường xuyên của gia đình như cầu nguyện, giải trí, picnic, nghỉ hè, hay những dự án nhỏ để mọi người có thể tham gia... là những cơ hội giúp đứa bé cảm nhận được mình là thành phần quan trọng, cần thiết trong gia đình, có trách nhiệm, và nhờ đó sẽ lớn lên trong tự tin, đủ sức vượt qua những cám dỗ của bè bạn và cuộc đời sau này.  Cha mẹ cũng nên tùy theo tuổi tác, sự hiểu biết, lớn khôn của con cái mà chỉ dạy, giao trách nhiệm khác nhau.  Điều cần thiết là phải giải thích cho các con hiểu để tránh sự so bì, ganh tị.

Những đứa trẻ được nuôi dưỡng trong tình yêu thương của cha mẹ sẽ cảm thấy an tâm khi ra đời, và sẽ dễ dàng yêu mến tha nhân, không nhìn xã hội như một đấu trường mà mỗi người phải tranh loại nhau để sống.  Tha nhân không còn là hỏa ngục như cái nhìn của Jean Paul Sartre, mà là những tất yếu giúp cho cuộc sống mỗi người có ý nghĩa hơn, phong phú hơn, và đáng sống hơn.  Và chừng đó, thế giới sẽ không còn phải quan tâm đối đầu với những biến cố như ngày 11 tháng 9 năm 2001 xảy ra ở Hoa Kỳ. 

 

 

"..Go into whole world and proclaim the gospel to every creature(MK 16:15)"
For question or comments please write to Dan Than magazine

"copyright © 2006"

Dan Than Magazine, P.O Box 5474 Katy, Texas 77491-5474
For questions about this site contact our Webmaster