VATICAN II: CÁNH CỬA MỞ RA THẾ GIỚI

 

                                                       Linh mục Nguyễn Thái  Hợp, OP

 

Khi nghiên cứu lịch sử Giáo hội Công giáo không ai có thể phủ nhận vai trò và vị thế của công đồng Vatican II. Trong suy tư thần học, trong tương quan với xã hội, cũng như trong nhiều lãnh vực khác về cơ cấu tổ chức và sinh họat của Giáo hội rõ rệt có  giai đoạn trước giai đoạn sau Vatican II. Dưới đây là một vài tản mạn ngắn gọn về mối tương quan giữa Đạo – Đời, cũng như giữa Giáo hội – xã hội trần thế theo quan điểm của Vatican II.

1-    Thảm kịch xung đột Đạo-Đời

Kitô giáo, tự bản chất, là một tôn giáo nhập cuộc, lăn lưng vào đời để cứu vớt, cải tạo cuộc đời từ nền tảng, đồng thời đem đến cho nó một ý nghĩa, một giá trị đích thực. Các trình thuật Tin Mừng kể lại: Con Thiên Chúa đã giáng trần để mặc lấy thân phận con người, làm người với mọi người và như mọi người. Ngài tự nguyện chia sẻ kiếp người với anh em nhân loại, đảm nhận những vấn đề nhân loại với tư cách một con người để thăng hóa cả kiếp người: “Chúa làm người để con người làm con Chúa”.

       Ngài có lòng ưu ái đặc biệt đối với những người nghèo khổ, bị áp bức, đày đọa hay bỏ quên trong xã hội. Chính Ngài đã sinh ra trong hang bò lừa, giữa chốn đầu đường xó chợ, không cửa không nhà (Lc.2, 1-8). Chính Ngài đã tự đồng hóa với những anh em hèn mọn và khổ đau nhất trong nhân loại. Tất cả những gì đụng chạm đến họ là đụng chạm đến bản thân Ngài: “Quả thật, thầy bảo anh em: tất cả những gì anh em làm cho một người hèn mọn nhất là anh em đã làm cho chính thầy” (Mt.25, 35tt.). Hiểu như vậy dù Đạo của Đức Kitô là Đường dẫn đưa chúng ta tiến về Nhà Cha, nhưng vẫn không bao giờ cho phép chúng ta hờ hững, lãnh đạm với anh em đồng loại. Đạo của Ngài cũng chẳng hề giới hạn trong những “cấm giới”: đừng giết người, đừng trộm cắp, chớ gian dâm... mà còn là đạo hành động, đạo làm. Đối với Ngài, chẳng ai có thể chỉ theo đạo bằng môi miệng: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ những ai thực hiện ý muốn của Cha Thầy” (Mt.7, 21).

       Đức Kitô triệt để thuộc về Thiên Chúa Cha, nhưng đồng thời cũng trọn vẹn sống cho con người. Ngài đồng thời vừa là Con-Thiên-Chúa vừa là Con-Người. Nơi Ngài không hề có chuyện cắt xén, phân chia một cách giả tạo giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người, giữa tinh thần và thể xác. Ngài không hiến dâng linh hồn cho Thiên Chúa, để rồi quẳng lại thân xác khô cứng, chai lạnh cho nhân loại. Trái lại, Ngài đã hy sinh mạng sống vừa làm của lễ tình yêu dâng lên Chúa Cha, vừa nên giá cứu chuộc loài người. Nơi Ngài chúng ta gặp thấy sự nối kết tuyệt mỹ giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa với con người. Bằng một tình yêu duy nhất, Ngài đã ôm trọn cả Thiên Chúa lẫn nhân loại. Chỉ một cây thập giá thôi, nhưng bao gồm hai chiều kích: chiều dọc và chiều ngang, vừa hướng về Thiên Chúa, vừa giang rộng tới con người, vừa vươn thẳng lên trời, vừa cắm sâu vào lòng đất.1

       Tuy nhiên, phải thành thật công nhận rằng, suốt dọc nhiều thế kỷ, việc hòa hợp Đạo-Đời, giải quyết ổn thỏa những giằng co, tranh chấp giữa tinh thần và vật chất, giữa Nước Trời và trần gian đã trở thành vấn đề căng thẳng trong lòng Giáo hội. Theo linh mục Teilhard de Chardin, không có gì là quá đáng khi chúng ta quả quyết rằng giai đoạn trước Công đồng Vatican II, chín phần mười Kitô hữu giữ đúng luật Hội thánh đều coi việc đời như là cái gì “cản trở con đường thiêng liêng”.

Trên phương diện tranh đấu cho công bằng xã hội, linh mục L.-J. Lebret đã cảnh cáo các Kitô hữu: “Cõi lòng nhiều Kitô hữu đã lạnh lắm rồi. Ngọn lửa bác ái không còn nung nấu họ như đã nung nấu thánh Phaolô. Họ tính toán kỹ lắm, tính toán làm sao cứu rỗi được linh hồn mình là đủ, còn ngoài ra thiên hạ có quằn quại khổ đau thì cũng mặc xác nó. Họ yên tâm với cuốn sổ kê khai những việc lành phúc đức hàng ngày. Nào có hệ gì tới họ, nếu thế giới sụp đổ, nếu giới vô sản ngày càng đông, càng thêm khốn khổ, nếu thảm cảnh bóc lột lao động còn tiếp diễn. Họ rất bình thản với sự an ninh thiêng liêng của mình và luôn sẵn sàng hướng hồn lên “cõi siêu nhiên”.

       Trong hành trình đi tìm Tuyệt-đối, tìm sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, có những giai đoạn các tín hữu, nhất là các tu sĩ, đã coi trần gian như chốn lưu đày, như thung lũng nước mắt hay một quán trọ tạm bợ trên đường thiên lý, một bến đò để dừng chân giây lát trong khi đợi chờ một chuyến sang ngang. Trải qua dài đời lịch sử, xuất thế vẫn luôn luôn là một cám dỗ thường xuyên và nặng nề nhất đối với những đứa con của Thiên đàng, vì quê hương đích thực của họ là Trời chứ đâu phải mặt đất su si này. Trọn đời họ hầu như chỉ ngong ngóng đợi ngày về chầu Chúa, nên dĩ nhiên kém nhiệt tâm và gắn bó với những hoạt động trần thế, với vận mệnh chung của anh em nhân loại.

       Trong viễn tượng một tôn giáo chỉ mải miết tìm sự cứu rỗi cá nhân và muốn thực hiện sự cứu rỗi đó bằng cách phủ nhận, chối từ cõi đời này, thì cho dù người tín hữu có dấn thân hoạt động, cố gắng hòa mình với người đời đến đâu chăng nữa, những người ngoài Công giáo vẫn nhìn thấy nơi tâm trạng các tín hữu phảng phất cái gì cách biệt và đáng ngờ vực của một kẻ hai lòng hay một bạn đồng minh miễn cưỡng. Nói khác đi, trên bình diện nhân bản, những đứa con của Thiên đàng hình như chưa chứng tỏ đủ niềm xác tín và tinh thần chiến đấu cao độ cho trần gian như những đứa con của trái đất.

       Có lẽ vì thế mà, có những giai đọan, nhiều người ngoài Công giáo đã ngờ vực thái độ dấn thân xây dựng xã hội trần gian của các Kitô hữu. Họ cho rằng các Kitô hữu không bao giờ có thể thật sự yêu mến, thật sự sống chết với quê hương trần thế, vì Kitô hữu vẫn còn một quê hương khác, một ngõ rút lui an toàn và bất khả xâm phạm ở ngoài trần gian.  Triết gia Nietzsche đã gay gắt kết án các Kitô hữu là lũ hèn nhát, phản bội, là bọn người ích kỷ, cầu an. Ông đã thách thức các Kitô hữu phải hát những bài hát hay hơn nữa, những bài ca tôn giáo thấm đậm tình người hay những bài ca nhân bản thấm nhuần tinh thần tôn giáo, để ông có thể tin nơi thực tại siêu nhiên.

 2-   Tương quan giữa Giáo hội và trần gian

       Mối tương quan giữa Giáo hội và trần gian trước tiên hệ tại nơi sự kiện người ta đã hiểu “ trần gian ” theo ý nghĩa nào. Từ “mundus ” mà chúng ta thường dịch là “ trần gian ” ít nhất có bốn nghĩa2. Mối tương quan giữa Giáo hội và trần thế sẽ mang những sắc thái riêng biệt, tùy theo cách người ta hiểu và giải thích từ trần gian này.

- Theo nghĩa thứ 1, trần gian là toàn thể công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Cựu ước nói nhiều đến ý nghĩa này, nhưng Tân ước hầu như chỉ nhắc phớt qua (Mc 13,19; Mt 25,34; Lc 11,50; Ga 17,5.24; Ep 1,4 ...). Tuy nhiên, trong toàn bộ Thánh kinh công trình tạo dựng mang một ý nghĩa rất quan trọng và nó còn hướng tới sự thực hiện chương trình Cứu độ cũng như Nước Trời.

- Theo nghĩa thứ 2, trần gian ám chỉ cái khung cảnh trong đó con người hiện diện và hoạt động. Thánh Gioan thường hiểu trần gian theo ý nghĩa này: Đức Kitô được sai đến “ trần gian ” (Ga 1,9-10; 3,17-19; 16,21-33; 17, 11-18 ...), do đó các môn đệ không được “ra khỏi trần gian” (Ga 17,15; 1 Cor 5,9). Theo nghĩa này, trần gian có thể là đối tượng để Thiên Chúa tự bày tỏ trong Đức Kitô (Ga 7,4; 8,26; 18,20) và có khả năng đón nhận mặc khải cứu độ (Ga 12,19; 17,21-23).

- Theo nghĩa thứ 3, trần gian được hiểu như “cái thế gian này”, tức thế giới lịch sử của con người, với sự xâm nhập của tội lỗi và bị đặt dưới ảnh hưởng của Kẻ Xấu (Rm 5,12-13; 1 Cor 2,6.12; Gl 1,4; 6,14). Cái thế gian này thường bị điều động bởi “lực lượng” ác cảm với Nước Trời. Hơn nữa, nó tạo được một sức hấp dẫn không những đối với nhân loại, mà ngay cả đối với các Kitô hữu nữa nhằm xui dục họ xa lìa Thiên Chúa (1 Cor 7,33; 2Tm 4,10; Tt 2,12). Thánh Gioan và thánh Phaolô đã diễn tả sứ đối kháng giữa “thế gian” với Thiên Chúa qua những cặp đối lập: ánh sáng / bóng tối, sống / chết, chân lý / dối trá, bên trên / bên dưới, tinh thần / xác thịt, người mới / người cũ (Ga 3,31; 15, 18; 17,14-16; 1Ga 4,5; 5,4-19; Rm 12,2; 1Cor 2,12; 6,14).

Đây là thế gian hoàn toàn  dưới quyền kẻ xấu, không biết đến Đức Kitô và cũng không được Ngài cầu nguyện cho (Ga 14, 17-19; 17,9). Tuy nhiên chính cái trần gian này lại được Thiên Chúa yêu thương, được chiếu sáng, được cứu độ (Ga 3,16-17; 4,42; 12,47; 1Ga 4,14).

- Theo nghĩa thứ 4, trần gian được hiểu theo một nghĩa rộng lớn hơn là  nữ muôn loài thọ tạo, bao gồm tất cả loài người và sự vật, được nhìn trong tương quan với tac động cứu độ của Đức Kitô. Toàn thể vũ trụ tùy thuộc vào Đức Kitô và tất cả đang khắc khỏai mong chờ ngày được giải thóat 9Rm 8,19-22; 1 Cor 15,27 tt; 2Cor 5,18; Kh 4,11; 21,1-5).

      Dưới ánh sáng của Thánh kinh, chúng ta có thể nói con người và vũ trụ là hai anh em sinh đôi: không thể có con người mà thiếu vắng vũ trụ, cũng như không thể có vũ trụ mà vắng bóng con người. Chính vì vậy, chúng ta phải trân trọng, yêu quý và săn sóc trần gian, như chính Đức Kitô đã yêu thương và hiến thân cứu chuộc nó.

       Công đồng Vatican II nhìn nhận tính hàm hồ của từ “trần gian”3, nên đã xác định rõ ý nghĩa của nó. Nhìn tổng quát, Hiến chế “ Giáo hội trong thế giới hôm nay ” hiểu “trần gian” theo nghĩa thứ 1, 2 và 4. Tuy nhiên, một vài nơi cũng xuất hiện trần gian theo nghĩa thứ 3. Thế giới mà “Gaudium et Spes” đề cập là thế giới của con người, của tòan thể gia đình nhân loại, hơn là vũ trụ vạn vật. Chúng ta hãy cùng nhau đọc lại lời mở đầu của Hiến chế: “Nỗi vui mừng và niềm hy vọng, sầu khổ và âu lo của con người hôm nay, nhất là của người nghèo và của những ai đau khổ, cũng là vui và hy vọng, sầu khổ và âu lo của các môn đệ Đức Kitô. Không có gì đích thực nhân loại mà lại không có âm vang trong cõi lòng người môn đệ Đức Kitô”4.

Tính trần  thế ” của người giáo dân được đặc biệt đề cao và nhấn mạnh. Họ là những Kitô hữu đang dấn thân vào những sinh hoạt trần thế với mọi người, như mọi người, trong tương giao nghề nghiệp, văn hóa, xã hội và bằng hữu. Mảnh đất nhân bản và trần thế này phải là môi trường để người giáo dân thực hiện nhiệm vụ làm người và lý tưởng Kitô hữu của mình. “Họ đuợc gọi, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, tác động như men trong bột, thánh hóa thế giới bằng việc chu toàn nhiệm vụ của mình. Như thế họ có thể đem Chúa Kitô đến cho người khác bằng chứng tá của đời sống thấm nhuần đức Tin, Cậy và Mến”5.

Giáo hội trân trọng tất cả những gì chân thật, tốt đẹp và chính đáng trong các định chế chính trị. “Công đồng khuyên các Kitô hữu, đồng thời là công dân Nước Trời và xã hội trần thế, hãy nô lực và trung thành chu tòan những trách vụ trần thế, dưới sự hướng dẫn của tinh thần Tin Mừng. Thực là sai lầm những Kitô hữu, vịn cớ chúng ta không có quê hương trường tồn nơi trần thế mà phải hướng về quê mai sau, cho rằng mình có quyền xao lãng các bổn phận trần thế, mà không ý thức rằng chính đức tin bó buộc mỗi người, tùy theo ơn gọi của mình, phải chu tòan trách vụ đó một cách hoàn hảo hơn. Nhưng ngược lại cũng sai lầm không kém những ai nghĩ rằng có thể dấn thân trọn vẹn vào các sinh hoạt trần thế như thể các sinh họat này hoàn toàn xa lạ với đời sống tôn giáo, vì cho rằng đời sống tôn giáo chỉ hệ tại việc thực hiện các nghi thức phụng tự và chu toàn một số trách vụ luân lý. Việc phân chia giữa niềm tin mà họ tuyên xưng với cuộc sống thường nhật của nhiều người là sai lầm lớn nhất của thời đại”6. Chính vì thế, Vatican II mời gọi các tín hữu dấn thân để xây dựng và làm cho cuộc đời này ngày càng tiến bộ hơn, đẹp hơn, nhân ái hơn.

 3)-  Mở rộng cửa ra thế giới

 Không thể đề cập đến công cuộc canh tân và thích nghi của công đồng Vatican II mà không nhắc đến khuôn mặt ngôn sứ của đức Giáo chủ Gioan XXIII. Thật vậy, quyết định triệu tập công đồng là quyết định độc đáo của đức Gioan XXIII7 Mối bận tâm chính của ngài khi tuyên bố triệu tập Công đồng là làm sao loan báo “Nước Trời đang tới” một cách hữu hiệu cho con người và thời đại hôm nay8.  Ngài mời gọi các Kitô hữu can đảm và sáng suốt nhận diện “những dấu chỉ thời đại”, những dấu chỉ của hy vọng, bất chấp  những khó khăn và mây mù hiện tại.

Ngài không thích thứ “ngôn ngữ gỗ” và lối diễn văn kinh điển, giáo điều. Trái lại, ngài có lối nói đầy biểu tượng, diễn tả rõ rệt điều mà Giáo hội phải đạt tới: một cộng đồng Dân Chúa để phục vụ Nước Trời và nhân loại.  Lần kia, một ký giả hỏi về kỳ vọng của ngài nơi Công đồng. Đức Gioan XXIII mỉm cười trả lời: “Tôi cũng chưa biết rõ”. Thế rồi, bằng một cử chỉ biểu tượng, ngài dẫn ông ta đến gần cửa sổ, mở toang cánh cửa và nói: “Ít nhất, thoáng khí hơn”.

Khi bế mạc khoá họp thứ I của Công đồng, đức Gioan XXIII long trọng lặp lại một lần nữa ước vọng thâm sâu của ngài: “Công đồng sẽ đích thực là “lễ Hiện Xuống mới”, làm cho Giáo hội được triển nở trong nguồn năng lực nội tại và mở rộng ra tất cả mọi lãnh vực của hoạt động nhân loại. Sẽ là một bước nhảy vọt của triều đại Đức Kitô trong thế giới, một sự tái xác định theo cách thế luôn luôn cao hơn và có tính thuyết phục hơn Tin mừng cứu độ, sự loan báo rạng ngời về quyền tối thượng của Thiên Chúa, về tình huynh đệ nhân loại trong bác ái, về hứa hẹn hoà bình dưới trần thế cho những người thiện tâm”9.

Giữa lúc công cuộc canh tân và thích nghi còn dang dở, đức Gioan XXIII lâm trọng bệnh. Nhưng trước khi từ trần, ngài đã đọc cho Hồng y Cicognani một bản văn trong đó đúc kết quan điểm và đường hướng canh tân của ngài: “Hôm nay hơn bao giờ hết và chắc chắn hơn những thế kỷ vừa qua, chúng ta được mời gọi để phục vụ con người xét như là con người, chứ không phải chỉ phục vụ người Công giáo mà thôi, trong tương quan với nhân quyền chứ không phải chỉ cho quyền lợi của Giáo hội Công giáo. Hoàn cảnh hiện tại, những đòi hỏi của năm mươi năm sau cùng này, việc đào sâu đạo lý đã dẫn đưa chúng ta đến những thực tại mới. Không phải Tin Mừng đã thay đổi; đúng hơn chính chúng ta bắt đầu hiểu Tin Mừng hơn. Ai đã sống lâu và đã phải đảm nhiệm từ đầu thế kỷ này những trách vụ mới của hoạt động xã hội bao trùm con người toàn diện, ai đã sống và đã có thể đối chiếu những nền văn hoá và truyền thống khác biệt, biết rằng đã đến lúc cần nhận ra “những dấu chỉ thời đại”, để nắm lấy cơ hội và để nhìn xa hơn”10.

Lời di chúc tâm huyết này đã trở thành một bản “hiến chương cho công đồng” để xác định hướng đi. Ba đề tài ruột của đức Gioan XXIII: Giáo hội của người nghèo, vấn đề đại kết và đối thoại với thế giới hôm nay đã trở thành ba trục của công đồng. Công đồng Vatican II đã cố gắng thực hiện hướng đi đó: Chủ trương thích nghi và canh tân để có thể rao giảng Tin Mừng một cách hữu hiệu cho con người hôm nay, đồng thời can đảm trở thành Giáo hội nghèo và của người nghèo.

Hiến chế tín lý về Giáo hội tuyên bố: “Đức Kitô đã hoàn thành công cuộc cứu độ trong nghèo khó và bị bách hại, cũng thế Giáo hội được mời gọi bước theo cùng một con đường để loan báo hiệu quả cứu độ cho nhân loại. Đức Kitô, “vốn dĩ là Thiên Chúa ... đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (Ph 2, 6-7), và “vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo hèn” vì chúng chúng ta (2Cor 8,9). Đó cũng phải là con đường của Giáo hội: mặc dù cần những phương tiện nhân loại để chu toàn sứ vụ, Giáo hội không được thiết lập để kiếm tìm vinh quang trần thế, nhưng để rao truyền, bằng chính cuộc sống, sự khiêm tốn và từ bỏ. Đức Kitô đã được Chúa Cha sai đến “để loan báo Tin Mừng cho người nghèo hèn... chữa lành các tâm hồn đau khổ” (Lc 4,18), “kiếm tìm và cứu vớt những gì đã mất” (Lc 19,10). Cũng thế, Giáo hội ân cần săn sóc những ai khổ đau vì tật bệnh; nhất là nhìn nhận nơi tất cả những người nghèo hèn và khổ đau hình ảnh của Đấng Sáng lập nghèo khó và khổ đau, Giáo hội cố gắng làm giảm nhẹ nỗi cơ cực của họ và muốn phục vụ Đức Kitô trong những người khổ cực đó” (Lumen Gentium, 8).

Sắc lệnh về Truyền giáo nhìn nhận tính đa diện, phong phú và độc đáo của mỗi nền văn hóa. Theo sắc lệnh, vì các Kitô hữu được thừa hưởng gia sản văn hóa riêng của mỗi dân tộc cho nên phải gắn bó với gia tài văn hóa đó và cố gắng chu toàn sứ vụ men trong bột nơi chính môi trường văn hóa của mình: “Người Kitô hữu đến từ mọi dân tộc kết hợp thành Giáo hội, không phân cách với người khác về quốc gia, về ngôn ngữ, cũng như về cách thế sống, do đó họ phải sống cho Thiên Chúa và cho Đức Kitô theo tập tục và đường lối sử sự của dân tộc mình, với tư cách là công dân tốt họ phải phát triển một cách thực sự và hữu hiệu lòng ai quốc. Tuy nhiên, cần phải tuyệt đối tránh sự kỳ thị chủng tộc, chủ nghĩa quốc gia quá khích và cổ võ tình huynh đệ đại đồng giữa mọi người”11.

Đối với các tổ chức chính trị, Công đồng chủ trương cộng tác, tôn trọng sự độc lập và tự lập của các thể chế chính trị, nhưng không đồng hóa với bất cứ chế độ nào: “Trong lãnh vực riêng biệt, cộng đồng chính trị và Giáo hội mỗi bên độc lập và tự trị. Nhưng cả hai, dưới danh nghĩa khác nhau đều phục vụ con người trong sứ vụ cá nhân và xã hội. Cả hai sẽ thực hiện hữu hiệu sự phục vụ này khi duy trì được sự cộng tác lành mạnh, tùy theo những điều kiện thời gian và không gian”12.

 4-   Đối diện với hiện tại và tương lai

 Vatican II chủ trương mở cửa ra thế giới. Đó là một cái nhìn khá lạc quan về “trần gian” và có lẽ phù hợp với thập niên 50 - 60 của thế kỷ XX. Nhưng ngay vào thời điểm đó triết gia Jacques Maritain đã nghĩ rằng hiến chế “Hội Thánh trong thế giới hôm nay” nhìn trần gian với một thái độ lạc quan khó có thể biện minh bởi Tân Ước13. Trước tình trạng tranh tối tranh sáng của toàn cầu hóa hôm nay, một số người đề nghị nên đặt nổi nghĩa thứ 3 của trần gian. Trước một trần gian, đầy bóng tối và ánh sáng, thành công và thất bại, hạnh phúc cho một thiểu số và khổ đau cho đại đa số như vậy, Giáo hội không thể mở cửa ra thế giới hôm nay mà trước tiên không phân biệt, lượng giá và phê phán theo tiêu chuẩn “gạn đục khơi trong”.

Đối với xã hội Việt Nam, vấn đề gắn bó với quê hương dân tộc vẫn là một thách đố gay gắt được đặt ra cho Giáo hội Công giáo. Nhiều thành phần của dân tộc đã thách thức người Công giáo sáng tác và hát lên những bài ca hay hơn nữa, những bài ca tôn giáo đượm tình người hay ngược lại những bài ca trần gian thấm nhuần tinh thần tôn giáo. Thể theo đường hướng đối thoại và hội nhập của công đồng Vatican 2, nhất là để trả lời cho thách đố đặc biệt mà đất nước đặt ra cho Giáo hội vào thời điểm đó, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã công bố lá Thư Mục vụ năm 1980:  sống Phúc âm giữa lòng dân tộc, đồng thời xây dựng trong Hội thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin bằng chất liệu của quê hương.

 Tuy nhiên, từ đó đến nay đã bao nhiêu lần vật đổi sao dời. Khối Xã hội chủ  nghĩa ở Đông Âu không còn nữa và thị trường tự do đang trở thành mô hình kinh tế toàn cầu.  Vấn đề đặt ra cho chúng ta hôm nay là phải nghiêm chỉnh tự hỏi đâu là nhu cầu và lợi ích khẩn thiết của dân tộc? Phải chăng trận chiến cam go nhất của dân tộc hiện nay là rửa xong cái nhục nghèo nàn và lạc hậu? Làm sao đưa dân tộc đi lên ngang tầm với các nước trong khu vực? Tiến trình dân chủ hóa, công nghiệp hóa và toàn cầu hóa đóng góp gì cho sự phát triển của dân tộc? Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc ở đầu thế kỷ XXI này bao hàm trách nhiệm và sứ vụ nào? Đâu là đường lối sống Đạo và cách thế diễn tả niềm tin phù hợp với thực tế hôm nay? Đồng hành với dân tộc để góp phần xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, tự do và hạnh phúc hôm nay mang ý nghĩa nào và cần được thể hiện ra sao?

Uỷ ban Đoàn kết Công giáo vẫn tự hào là nhịp cầu giữa giới Công giáo với chính quyền cách mạng. Trong nhiều giai đoạn khó khăn của lịch sử, một lịch sử luôn pha trộn ánh sáng và bóng tối, Uỷ ban đã khéo léo bắc những nhịp cầu cần thiết. Nhờ vậy, một số bế tắc đã được giải quyết và giao thông được tái lập.

Hôm nay, hoàn cảnh đã thay đổi và mối tương quan giữa Nhà nước với Giáo hội cũng cải thiện. Một số hoạt động và công tác mà ngày xưa không thể thực hiện được nếu thiếu vắng Uỷ ban, thì hiện nay nhiều tổ chức và cơ quan khác của Giáo hội đã tự đảm nhận. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những khó khăn trong lãnh vực giáo dục và y tế: Giáo hội vẫn chưa được phép mở nhà thương và trường học, mặc dù đây là nhu cầu cấp bách của dân tộc. Nếu sứ vụ  của Uỷ ban là bắc cầu, phải chăng nên bắc những chiếc cầu hiện đại trên hai khúc sông khó khăn đó?

 

 

"..Go into whole world and proclaim the gospel to every creature(MK 16:15)"
For question or comments please write to Dan Than magazine

"copyright 2006"

Dan Than Magazine, P.O Box 5474 Katy, Texas 77491-5474
For questions about this site contact our Webmaster