Chuyện Đời Chuyện Đạo

 

              

CHIA S VI EM, NGƯỜI MUN ĐI TU

LÀM LINH MC (Phn II)


Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

 


A. Hạnh Kiểm của linh mục: Linh mục phải là người có nhân bản. 

 


1. Lòng biết ơn

2. Tiết chế

3. Biết nói cám ơn và xin lỗi

 (xem Phần I)

 

4. Biết lắng nghe


Em có biết không, lắng nghe ý kiến của người khác là việc làm quan trọng của một linh mục, nhất là các linh mục coi sóc xứ đạo, lắng nghe chứ anh không nói là làm theo ý của giáo dân, nhưng lắng nghe ý kiến của giáo dân rồi phân tích với tất cả khôn ngoan và kinh nghiệm, bởi vì cộng đoàn giáo xứ là của họ, là nơi họ sinh ra và lớn lên, còn linh mục là người được phái đến để coi sóc họ về phần linh hồn, để họ sống như ý của Thiên Chúa muốn.


Lắng nghe cũng là thái độ khiêm tốn của người mục tử, bởi vì có những linh mục không hề biết lắng nghe lời góp ý của giáo dân, các ngài chỉ muốn giáo dân thụ động nghe lời của mình mà thôi, nên giáo xứ của các ngài vắng đi nụ cười thân ái giữa cha và con, vắng đi lời giảng hùng hồn truyền cảm của cha sở, vì lòng ngài không vui khi có giáo dân góp ý cho mình trong việc xây dựng giáo xứ. Anh đã nghe nhiều giáo dân than phiền cha này cha nọ chỉ biết làm theo ý riêng của ngài mà thôi, bởi vì ngài muốn chứng tỏ cho giáo dân biết mình là người toàn năng, giỏi toàn diện trên mọi công việc. Có những việc cha sở phải “độc quyền” như lễ nghi và giáo lý, có những việc cha sở phải bàn hỏi với giáo dân và có quyết định sau cùng, có những việc cha sở giao cho giáo dân chủ động quyết định.v.v…thì giáo xứ chắc chắn sẽ phát triển về mọi mặt, mà phát triễn đẹp nhất chính là cha con trong giáo xứ biết yêu mến và thong cảm nhau.


Em biết không, đôi lúc anh tự nghĩ rằng có lẽ thiên chức linh mục cao quý quá, cao trọng quá, nên tự nhiên có những linh mục sau khi mới chịu chức thì thay đổi cả tính tình vốn hiền hòa khiêm tốn của mình, thay đổi luôn cả tư cách vốn rất bình dân thân thiện của mình để trở thành một con người tuy gần mà xa với giáo dân, đương nhiên anh không nói rằng tất cả các linh mục đều như thế, nhưng thực tế vẫn còn có nhiều linh mục vẫn không thay đổi gì sau khi làm linh mục, vì làm linh mục đối với các ngài là để phục vụ dân Thiên Chúa mà thôi.


Anh còn nhớ rất rõ hồi anh còn làm thầy giúp xứ, cha sở (và cũng là nghĩa phụ) của anh đã dạy anh rằng: “Lắng nghe giáo dân là một nhân đức, thầy cần phải tập ngay bây giờ và sau này làm linh mục”, cho nên anh không lạ gì ngài đến giáo xứ nào thì giáo xứ ở đó phát triển, và giáo dân rất đoàn kết cộng tác với ngài trong việc mở mang giáo xứ.


Đã nhiều lần trong công tác mục vụ anh đã lắng nghe ý kiến của giáo dân về một số vấn đề, và anh thấy những ý kiến ấy làm cho công việc truyền giáo của mình càng tốt đẹp hơn, giáo dân thấy cha sở biết lắng nghe ý kiến của mình họ cũng rất vui vẻ phấn khởi, và khi họ biết cha sở không có độc quyền độc đoán thì họ sẵn sàng làm tất cả những gì mà giáo xứ cần đến. Vậy thì lắng nghe trong những dịp nào, trong những dịp sau đây:


- Những lần hội họp ban hành giáo.


Những lúc họp như thế này thì thường thảo luận những việc sắp làm và kiểm thảo những việc đã làm, có một kinh nghiệm nho nhỏ của anh là khi ban hành giáo thảo luận vấn đề thì cha sở nên lắng nghe, không góp ý giữa chừng, tuyệt đối lắng nghe, chỉ nói khi họ hỏi ý kiến, tại sao vậy? Bởi vì cha sở là người quyết định cuối cùng, nên phải lắng nghe để quyết định của mình được cả hai phía thuận, nghịch đồng ý, hơn nữa khi lắng nghe những lời bàn cải của họ, mình có thể hiểu thêm được nhân cách trí tuệ và khả năng từng cá nhân, để mời họ cộng tác vào những ban bệ trong giáo xứ của mình.


- Lắng nghe khi tiếp xúc trò chuyện với giáo dân.


Giáo dân chỉ thố lộ tâm tình hoặc góp ý cho cha sở khi ngài vui vẻ mà thôi, nhưng cũng có những trường hợp vì quá bức xúc nên giáo dân góp ý với cha sở mà không đợi khi ngài vui vẻ, trong những trường hợp như vậy thì linh mục cần phải lắng nghe hơn nữa, bởi vì khi những bức xúc được nói ra và được người lắng nghe thì giáo dân có cảm tưởng dễ chịu hơn và vui vẻ góp ý hơn.


Thường thì lời góp ý của giáo dân không có gì là to lớn lắm đâu, cũng chung quanh mấy vấn đề như: xin cha giảng ngắn lại chút xíu, xin cha đọc lớn tiếng trong thánh lễ để chúng con nghe được, hoặc xin cha cố gắng tiếp xúc hòa đồng với tụi thanh niên.v.v… tất cả những lời đề nghị như thế có lúc đụng chạm đến cha sở đấy, nhưng nếu sau này em làm cha sở thì nên biết bình tĩnh lắng nghe và nở nụ cười, rồi em sẽ thấy lời góp ý ấy quả không sai và dể dàng chấp nhận…


Anh cũng đã từng chia sẻ với các anh em linh mục rằng: lắng nghe giáo dân không phải là một việc làm nhục nhã của cha sở, cũng không phải là cha sở hạ thấp mình xuống, nhưng trái lại, khi biết lắng nghe giáo dân thì mình biết được cách quản trị giáo xứ của mình chổ nào chưa được và chổ nào đã ổn định cần phát triển tiếp tục (1), bởi vì lời và thánh ý của Thiên Chúa không đóng khung trong nhà thờ, không đóng khung nơi các mục tử của Giáo Hội, mà còn là nơi những người giáo dân của chúng ta, bởi vì khi cần thiết thì Thiên Chúa cũng có thể mở miệng con lừa để cho người ta biết thánh ý của Ngài ( Ds 22, 28-30), thì huống gì là giáo dân, những con người được Thiên Chúa giao phó cho các linh mục của Chúa Giê-su và của Giáo Hội chăm sóc.


Em thử tập lắng nghe tiếng của Thiên Chúa trước qua đức tin của em, rồi sau đó em tập lắng nghe tiếng của bạn bè khi họ góp ý cho em điều này điều nọ, tập lắng nghe cho biết ý của Thiên Chúa, để sau này khi vào học trong chủng viện hay một hội dòng nào đó, thì em biết lắng nghe các vị bề trên và các cha giáo của em, và khi trở thành linh mục thì em sẽ là một linh mục biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của giáo dân mà em có bổn phận coi sóc.

 

 

5. Biết thinh lặng


Người linh mục khôn ngoan là người biết thinh lặng đúng lúc, dù đang tranh cải gay cấn, dù đang bực tức, dù sự ấm ức lâu ngày dồn nén trong lòng, thì cũng phải biết thinh lặng đúng chỗ, đó chính là một ơn lành mà Thiên Chúa ban cho các linh mục của Ngài. Trong cuộc sống đời thường, sự thinh lặng đúng lúc luôn là liều thuốc giải độc cho các trường hợp, bởi vì sự thinh lặng này không phải là đồng lõa nhưng là sự nghỉ ngơi của khôn ngoan.

Em có biết không, anh đã từng thấy những vị linh mục thinh lặng trước những hỉ nộ sân si của các anh em linh mục của mình; anh cũng thấy (ít nữa là một lần) có một cha sở thinh lặng trước công kích của một vài giáo dân vì cha sở không làm theo ý họ, kết quả của sự thinh lặng ấy là gì, là chính những giáo dân ấy đến xin lỗi cha sở vì tính quá nóng nảy mà mình đã vượt qua quyền hạn của cha sở mình.


Linh mục, có thể nói là người của thinh lặng, vì Thiên Chúa thích hiện diện trong thinh lặng, và chỉ trong thinh lặng mà thôi thì linh mục mới thấy rõ ơn của Thiên Chúa ban xuống trên mình và trên giáo xứ của mình.


- Khi giáo dân tranh cải thì linh mục thinh lặng lắng nghe.

- Khi giáo dân trách móc linh mục thì linh mục thinh lặng lắng nghe.

- Khi giáo dân góp ý thì linh mục thinh lặng lắng nghe.

- Khi các anh em linh mục hỉ nộ sân si chỉ trích thì linh mục thinh lặng lắng nghe.


Thinh lặng lắng nghe khi người khác công kích mình thì khó lắm, nhưng Chúa Giê-su đã làm được và có rất nhiều vị linh mục đã làm như thế và đã thành công. Em thử hình dung ra một linh mục mà đối chất tay đôi với một giáo dân thì như thế nào, nói về hành vi và hình dung thì cả hai người mặt mày đều đỏ kè, nhăn nhó xấu xí khó coi; nói về ngôn ngữ thì lại càng khó nghe vì dùng những chữ dao to búa lớn để choảng nhau. Cho nên nếu không giữ được thinh lặng thì không những linh mục sẽ trở nên gương xấu cho người khác, và nhất định là giáo dân sẽ hoảng sợ ngài khi muốn góp ý xây dựng với ngài trong công việc của giáo xứ.


Thinh lặng cũng bày tỏ công phu tu dưỡng nhân đức của linh mục, một linh mục biết giữ được trạng thái thinh lặng thì khuôn mặt luôn bày tỏ nét vui tươi và hoạt bát, bởi vì tâm hồn của các ngày đã tĩnh trong một thế giới động là những việc phải lo toan của giáo xứ, cũng như những lời công kích của người khác.


Anh nghĩ rằng trong đời em cũng đã nhiều lần chứng kiến hai người chửi nhau, công kích nhau, thậm chí còn thượng cẳng tay hạ cẳng chân nữa là khác, những lúc em thấy như thế thì nên rút ra cho mình một bài học, để sau này khi đối diện với công việc của một linh mục, thì em có một cách suy tư hơn về việc thinh lặng trong đời sống tu trì, chính Chúa Giê-su cũng đã thinh lặng trước quan tổng trấn Phi-la-tô. Em đọc lại đoạn Tin Mừng của thánh Mac-cô nơi đoạn Chúa Giê-su đứng trước ông quan Phi-la-tô xem sao:


“Các thượng tế tố cáo Người nhiều tội, nên ông Phi-la-tô hỏi Người:

- Ông không trả lời gì sao? Nghe kìa, họ tố cáo ông biết bao nhiêu tội!” Nhưng Chúa Giê-su không trả lời gì nữa, khiến ông Phi-la-tô phải ngạc nhiên” (Mc 15, 3-5).


Đúng là Chúa Giê-su không trả lời, Ngài đang thinh lặng, cái thinh lặng của người hiểu biết trước cái không hiểu biết của kẻ khác, cái thinh lặng của người chiến thắng trước một kẻ kiêu ngạo hiếu chiến của người đối thoại, cái thinh lặng của người khôn ngoan và thông minh trước mặt người chỉ ỷ vào quyền chức nhưng nhu nhược của mình.


Trong đêm vắng giữ được thinh lặng thì rất dễ, nhưng thinh lặng giữa cuộc sống xô bồ mới khó và có giá trị; thinh lặng giữa cảnh thuận hòa của anh em thì rất dễ, nhưng thinh lặng khi anh em chia bè lập cánh để đấu đá nhau thì rất khó, bởi vì không ai muốn mình bị “lãng quên” trên “cuộc chiến” đấu bằng nước miếng này...

 

Em thân mến,


Cũng có những lúc em thinh lặng thì người ta sẽ nghĩ rằng em sợ hoặc thua cuộc, nhưng em đừng sợ, bởi vì những người có tính hiếu thắng mới nghĩ như thế mà thôi, cho nên bây giờ dù em chưa phải là linh mục, chưa phải là tu sĩ, nhưng anh nghĩ rằng em cũng cần phải biết thinh lặng đúng nơi đúng chỗ giữa những bạn bè của em, giữa những người mà em tiếp xúc hoặc khi họ hiếu thắng muốn em về phe họ để lớn tiếng chửi rủa nhục mạ người khác.

Một linh mục không biết thinh lặng đúng nơi đúng chỗ, thì chẳng khác gì đem hạt lúa giống gieo vào trong vườn hoa sặc sỡ, lúa giống sẽ biến thành cỏ và nhọc công cho người làm vườn phải nhổ bỏ mà thôi...


6. Biết tế nhị


Em có biết không, người khôn ngoan họ rất tế nhị trong cách cư xử hằng ngày với người khác, có những việc mà đôi lúc người thông minh không giải quyết được, nhưng người biết tế nhị thì giải quyết được ngay mà làm vừa lòng mọi người...


Vậy tế nhị là gì? Tế nhị có nghĩa là khéo léo, tinh tế nhã nhặn trong đối xử hoặc có những tình tiết rất nhỏ, sâu kín, khó nói hoặc không thể nói ra được (Đại từ điển tiếng Việt)

Linh mục là người thường tiếp xúc với giáo dân, mà giáo dân thì có đủ nhiều thành phần học thức và không học thức, nghề nghiệp khác nhau và sự giáo dục cũng khác nhau, cho nên việc tế nhị đối với các linh mục rất là cần thiết, mà nơi cần phải tế nhị nhất là tòa giảng và khi giao tiếp với giáo dân.


Giảng dạy là một công việc quan trọng của linh mục, là quyền ưu tiên của linh mục, quyền này gắn liền với chức linh mục, cho nên khi làm linh mục thì cũng đồng thời có bổn phận giảng dạy Lời Chúa cho mọi người, quyền này chỉ mất đi khi với lý do chính đáng và chỉ có đức giám mục địa phận mới có quyền mà thôi. Vì quyền giảng dạy là độc quyền của linh mục, cho nên có một vài linh mục khi giảng dạy thì có những lời lẽ không tế nhị với giáo dân, các ngài dùng những lời nói rất thật, thật quá đến nổi giáo dân phải đỏ mặt tía tai, đôi lúc các ngài trình bày một vấn đề mà không tìm hiểu coi có đụng chạm đến giáo dân nào không ? Tế nhị là trình bày Lời Chúa và chỉ trong phạm vi Lời Chúa mà thôi, khi muốn dùng hình ảnh của câu chuyện để làm bối cảnh thì nên tế nhị kẻo làm tổn thương giáo dân của mình.


Con người thời nay rất nhạy cảm và hình như rất dễ bị tổn thương, nếu có một lời nói hay một cử chỉ không tế nhị nào đó của người khác, nhất là của bạn bè và người thân, mà linh mục không phải là người thân của họ sao ? Em thân mến, đôi lúc một lời nói hay một cử chỉ không tế nhị của một linh mục mà làm tổn thương rất lớn cho giáo dân, và đôi lúc chúng ta không lạ gì thỉnh thoảng gặp một vài trường hợp giáo dân không muốn đến nhà thờ, mà hỏi lý do họ cũng không trả lời, những lúc như thế -theo kinh nghiệm của anh dò hỏi- thì phải biết họ đang có ấn tượng không tốt vì thái độ và lời nói không tế nhị của cha sở, mặc dù cha sở rất vô tư không để ý.


Có những chuyện rất tế nhị trong cuộc sống mà đôi lúc không nên nói ra cho người khác nghe, hoặc không nên nhắc lại giữa một tập thể khi có người trong cuộc đang hiện diện ở đó, anh tin chắc em cũng đã thấy nhiều lần bạn bè em hay một người thân nào đó muốn “độn thổ”, vì người ta cứ nhắc lại chuyện cũ của họ ra mà làm đề tài trò chuyện. Linh mục là người cẩn trọng nhất trong lời nói và nghiêm túc nhất trong hành vi của mình, dù đang lúc giảng dạy hoặc là trong lúc thể thao giải trí, tất cả đều được ngài “trình bày” một cách tế nhị, và do đó ngài trở thành người khôn ngoan trong giao tiếp, dễ dàng thân cận và là người biết cách lãnh đạo cộng đoàn.


Em biết không, anh trước khi làm linh mục thì đã có một thời gian rất dài mười ba năm liên tục giúp xứ, vừa đi làm, vừa học hành, vừa chăm lo mọi việc trong ngoài nhà thờ, giáo xứ của anh giúp tuy nhỏ nhưng rất phức tạp, vì giáo dân gồm cả ba miền nam bắc trung đều có, là nơi mà thành phần bất hảo của Saigòn đa phần tập trung ở đó, em không thể hình dung ra được sự phức tạp của nó đâu: ma cô, đỉ điếm, trộm cắp, tù hình sự.v.v...đều có cả. Cha sở của anh phải khôn khéo tế nhị hết sức với xã hội, với giáo dân, với những thành phần bất hảo ấy để rồi nhà thờ ngày càng khang trang hơn, giáo dân đông hơn và thành phần bất hảo ít hơn, ngài rất tế nhị với mọi người, lời nói cử chỉ nhất nhất đều làm cho giáo dân tin tưởng, cộng tác và giúp đỡ giáo xứ. Anh học được nơi ngài rất nhiều điều trong cách phục vụ và trong cách hành xử của một mục tử, cho nên, nếu em muốn đi tu để trở thành một linh mục, một mục tử thì ngay bây giờ em nên tập tành những đức tính nhân bản ấy đi, vì anh nghĩ rằng, có tài uyên bác mà cuộc sống không có nhân bản thì uổng lắm, nhất là đối với một linh mục.

 

 

7. Đơn sơ thật thà 

 

Em đừng cười khi anh nhắc nhở em là phải đơn sơ thật thà, bởi vì anh đoán rằng em sẽ cười và nói: đi tu thì đương nhiên là phải đơn sơ thật thà rồi, nhất là các linh mục cần phải đơn sơ và thật thà hơn nữa. Đúng như vậy, con người ta ai cũng yêu mến người đơn sơ thật thà, nhất là người ta vẫn luôn nhìn thấy các linh mục, tu sĩ là những người như thế, bởi vì tâm hồn của các ngài thì thật phẳng lặng không bon chen với đời, suy nghĩ của các ngài rất dạt dào sự yêu mến tha nhân nên luôn thật thà khi trò chuyện.


Nhưng em cần phải hiểu rõ ràng như thế này, các linh mục tu sĩ cũng là những con người, và các ngài đang sống giữa một xã hội lắm phức tạp như mọi người khác. Có một vài lần khi tiếp xúc với giáo dân hay bạn bè thì chắc là em co nghe một vài lời nói: “Ông cha này tính tình rất đơn sơ, còn ông cha kia sao ma lanh quá; ông cha này ăn nói thật thà, còn ông cha kia sao ăn nói ba xạo thế.v.v…”. Em đừng ngạc nhiên gì cả, bởi vì mỗi một linh mục đều bị ảnh hưởng rất lớn do môi trường và hoàn cảnh giáo dục: có linh mục sinh ra trong cảnh nghèo đầu tắt mặt tối làm việc nuôi gia đình; có linh mục thì sống trong cành giàu sang phú quý; có linh mục thì xuất thân bởi thành phần trung lưu; đó là chưa kể hoàn cảnh gia đình của các ngài như thế nào nữa đó…


Linh mục có tính tình đơn sơ thì chắc chắn là ai cũng yêu mến các ngài, sự đơn sơ của các ngài được thể hiện qua công việc, qua cách giao tiếp, tắt một lời là qua nhân cách của các ngài. Các ngài không kiểu cách khi tiếp chuyện với giáo dân, cách nói của các ngài rất bình dị không cong môi uốn lưỡi cho dẽo ngọt, tâm hồn của các ngài thì đơn sơ, bởi được thanh lọc bằng lời cầu nguyện và phó thác cho Thiên Chúa quan phòng.


Anh đã từng thấy một vài linh mục –có lẽ do ảnh hưởng gia đình chăng- sống không thật lòng với mình, các ngài không có sự thật thà đủ khi giao tiếp với người khác cũng như là giữa các anh em linh mục với nhau, vì không thật thà nên lời nói của họ trở thành con dao hai lưỡi, một để bảo vệ mình và một để công kích người khác, ngay cả anh em trong hàng linh mục với mình.


Khi còn là một ứng sinh linh mục triều hay linh mục dòng, thì ngay từ bây giờ em nên tập sống đơn sơ và thật thà với chính mình cũng như với người khác, đơn sơ không có nghĩa là đem chuyện người này nói cho người khác nghe, đơn sơ không có nghĩa là xử sự như con nít, nhưng là xử sự khôn ngoan như rắn và đơn sơ như chim bồ câu. Em đừng đợi đến khi làm linh mục rồi tập sống đơn sơ thật thà, bởi vì khi làm linh mục rồi thì đa phần các linh mục trẻ đều có óc kiêu ngạo –anh không cường điệu đâu- và sống theo sở thích của mình, các ngài như con chim sổ lồng như cá ra khơi, và quên dần những bài học nhân bản đã được học trong chủng viện hoặc trong tập viện, các ngài không còn đơn sơ vâng lời bề trên như hồi còn ở trong chủng viện hoặc trong nhà tập, không còn hòa nhã hòa đồng với các anh em bạn bè khác, mà thường dùng lời lẽ và thái độ của người đã thỏa mãn được mục đích của mình.


Đơn sơ thật thà là đức tính của thiên thần mà ma quỷ rất căm giận, và tìm mọi cách để hủy hoại nó nơi con người linh mục, cũng như nơi những người dâng mình làm tôi tớ của Thiên Chúa. Sự đơn sơ thật thà này là dấu chỉ tốt lành cho người linh mục trong khi thi hành chức vụ mục tử đã được Giáo Hội ủy thác cho các ngài, là niềm vui của giáo dân khi được một mục tử không biết gì ngoài đàn chiên của mình và hết lòng vì đàn chiên ấy.


Các bạn của anh thường nói đùa với nhau như thế này: “Chúa thương những kẻ ngù ngờ (ngu ngơ)”, ý nói là những người đơn sơ thật thà thường được hưởng nhiều may mắn hơn trong cuộc sống, anh thấy câu này rất đúng vì thực tế anh đã thấy có nhiều người dùng âm mưu thủ đoạn để “chơi” những người hiền lành, nhưng dù cho họ có kế hoạch hẳn hoi rồi thì phút chót cũng không được như ý của họ. Linh mục tu sĩ là những người đơn sơ thật thà nhất, bởi vì họ đi tu là để làm người đơn sơ thật thà như ý muốn của Thiên Chúa, do đó dù ở trong chủng viện hoặc trong tập viện họ được học cái gì người ta không thèm biết, nhưng người ta vẫn luôn luôn biết chắc chắn rằng, linh mục và tu sĩ là những người có đời sống đơn sơ và thật thà hơn những người khác.


Em thử nghĩ xem sao, một linh mục mà thường dùng thủ đoạn với người khác, nói năng hàm hồ, vu khống cáo gian hoặc lường gạt bạn bè thì sao nhỉ? Chắc chắn là sẽ không được mọi người tôn trọng, và các ngài cũng rất khó mà làm tròn bổn phận mục tử của mình, bởi vì anh biết có một vài linh mục đã dối trá với bề trên, với anh em và với giáo dân nên phải bỏ giáo xứ nơi mình đang phục vụ mà đi, đó chính là hậu quả của sự lừa dối và “lươn lẹo” trong đời sống của một linh mục tu sĩ. Sống đơn sơ với mọi người, không kiểu cách làm bộ làm tịch, không nói lời đầu môi chót lưỡi như những phường buôn bán là phẩm hạnh của một linh mục tu sĩ, và hơn nữa là một phúc lành cho giáo dân.


Anh đã nói với em là em đừng ngạc nhiên gì cả vì có những linh mục như thế, bởi vì họ cũng là con người nên có những tham sân si như tất cả những người khác, nhưng nếu có chê bai họ, là chê bai họ đã làm cho thiên chức linh mục cao quý trở thành tầm thường, họ lãnh nhận quá nhiều ân sủng, học được học quá nhiều phương pháp để chiếm lấy Nước Trời, nhưng họ đã không sử dụng ân sủng ấy, không dùng phương pháp đã học để chiếm Nước Trời làm gia nghiệp cho mình và giúp người khác biết cách chiếm Nước Trời. Cho nên khi em nghe nói linh mục này như thế, linh mục nọ như kia thì em đừng nản chí về các linh mục của Chúa Giê-su và Giáo Hội, và em cũng đừng bi quan mà làm mất ơn gọi của mình, hãy cầu nguyện cách riêng cho các ngài và cách chung cho các linh mục –trong đó có em.


Em thân mến, đức tính đơn sơ và thật thà của linh mục là chìa khóa để mở cửa tâm hồn của giáo dân, họ sẵn sàng hy sinh cho chủ chăn của mình khi họ biết ngài sống rất đơn sơ thân tình với họ, không chấp tay sau lưng với vai vế của kẻ trên khi nói chuyện với họ, không dùng lời lẽ lắc léo để chửi khéo giáo dân thế này thế nọ, nhưng trãi bày tấm lòng yêu mến của mình cho họ thấy bằng sự đơn sơ thật thà của mình.

 

(xem tiếp Phần III)

  

 

"..Go into whole world and proclaim the gospel to every creature(MK 16:15)"
For question or comments please write to Dan Than magazine

"copyright © 2006"

Dan Than Magazine, P.O Box 5474 Katy, Texas 77491-5474
For questions about this site contact our Webmaster